Quy định của pháp luật về công tác thẩm tra của các Ban HĐND
Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 và khoản 2 Điều 34 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15, Ban của HĐND có chức năng thẩm tra các dự thảo nghị quyết, báo cáo thuộc lĩnh vực phụ trách trước khi trình HĐND xem xét, quyết định. Trình tự thẩm tra được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, gồm: (1) Người đứng đầu cơ quan có báo cáo, nghị quyết trình bày báo cáo, nghị quyết (2) Ban của Hội đồng nhân dân thảo luận, (3) Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến, (4) Người đứng đầu cơ quan có báo cáo, nghị quyết giải trình về những vấn đề có liên quan (5) Ban của Hội đồng nhân dân biểu quyết khi xét thấy cần thiết.

Các Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026; phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Hoạt động thẩm tra được tập trung chủ yếu ở các nội dung: Nghiên cứu, phân tích toàn diện nội dung dự thảo báo cáo, nghị quyết do UBND và các cơ quan liên quan trình; đối chiếu với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và định hướng phát triển của địa phương; đánh giá các tiêu chí then chốt như: tính cần thiết, tính hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và đặc biệt là tính khả thi; chỉ ra được những khoảng trống chính sách, những điểm chưa phù hợp giữa quy định và thực tiễn, đồng thời đề xuất kiến nghị chỉnh sửa, hoàn thiện hoặc đưa ra phương án thay thế phù hợp.
Kết quả thẩm tra không chỉ là tài liệu phục vụ kỳ họp mà còn là “kênh thông tin phản biện chính sách” quan trọng, giúp đại biểu HĐND có thêm cơ sở để xem xét, quyết định.
Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng thẩm tra
Thứ nhất, nắm vững và cập nhật kịp thời hệ thống pháp luật: Việc nắm vững và thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật không chỉ là yêu cầu về mặt kiến thức mà còn là năng lực cốt lõi quyết định chất lượng hoạt động thẩm tra. Trong thực tế, một dự thảo báo cáo, nghị quyết thường chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều quy định khác nhau, từ luật, nghị định, thông tư đến các văn bản hướng dẫn và cả những nghị quyết đã được HĐND ban hành trước đó. Nếu không đặt nội dung thẩm tra trong tổng thể hệ thống văn bản liên quan, việc đánh giá rất dễ rơi vào phiến diện, dẫn đến nguy cơ xác định sai tính hợp pháp của chính sách, như ban hành vượt thẩm quyền, quy định chưa phù hợp hoặc trùng lặp. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc nắm được quy định, mà phải nắm một cách có hệ thống và luôn được cập nhật kịp thời; đặc biệt, cần lưu ý đến các quy định mới ban hành, các quy định chuyển tiếp, giúp kịp thời kiến nghị điều chỉnh phù hợp.
Thứ hai, lấy thực tiễn làm thước đo trung tâm: Nếu hệ thống pháp luật tạo nên khung chuẩn cho chính sách, thì thực tiễn chính là thước đo cuối cùng để kiểm chứng giá trị của chính sách đó, thẩm tra chỉ thực sự có ý nghĩa khi bám sát thực tiễn, phản ánh đúng những gì đang diễn ra ở cơ sở. Do vậy, hoạt động khảo sát phục vụ thẩm tra cần được tổ chức có trọng tâm, trọng điểm, bám sát nội dung và yêu cầu thẩm tra; thu thập thông tin đa chiều, kiểm chứng số liệu, đánh giá đúng thực trạng và những vấn đề phát sinh. Quá trình khảo sát chú trọng lắng nghe ý kiến của cơ quan quản lý, đối tượng chịu tác động và Nhân dân, qua đó làm rõ tính khả thi, tính phù hợp của các cơ chế, chính sách. Kết quả khảo sát là căn cứ quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng thẩm tra, bảo đảm các báo cáo, dự thảo nghị quyết trình HĐND có cơ sở thực tiễn vững chắc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Ban Văn hóa - Xã hội khảo sát thực tế tại bếp ăn Trường Phổ thông dân tộc Nội trú THCS Xín Mần.
Thứ ba, đề cao tính phản biện và bản lĩnh chính kiến: Giá trị cốt lõi của hoạt động thẩm tra không nằm ở việc lặp lại hay xác nhận nội dung của cơ quan trình, mà ở khả năng phát hiện vấn đề và thể hiện chính kiến độc lập trên cơ sở phân tích khách quan, toàn diện. Để thẩm tra có chất lượng, đại biểu phải thể hiện rõ quan điểm, nêu rõ mức độ đồng tình hoặc không đồng tình đối với từng nội dung; đồng thời đưa ra lập luận chặt chẽ dựa trên căn cứ pháp lý, số liệu và thực tiễn. Quan trọng hơn, phản biện không chỉ dừng ở việc phát hiện vấn đề mà phải hướng tới đề xuất giải pháp cụ thể, khả thi, tránh tình trạng nêu vấn đề chưa phù hợp nhưng thiếu kiến nghị xử lý. Đây chính là thước đo thể hiện bản lĩnh, trình độ và giá trị của hoạt động thẩm tra.

Đại biểu HĐND tỉnh phát biểu tại phiên thẩm tra.
Thứ tư, chủ động phối hợp với cơ quan soạn thảo: Thông qua việc trao đổi thường xuyên, tham gia góp ý vào đề cương, nội dung dự thảo và yêu cầu cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan, Ban thẩm tra kịp thời nắm bắt định hướng chính sách, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc chưa rõ căn cứ pháp lý, thực tiễn. Quá trình phối hợp được thực hiện trên tinh thần trách nhiệm, xây dựng, bảo đảm vừa giữ vững vai trò độc lập trong thẩm tra, vừa hỗ trợ cơ quan soạn thảo hoàn thiện nội dung, nâng cao chất lượng dự thảo. Nhờ đó, các báo cáo, dự thảo nghị quyết trình HĐND bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển của địa phương.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm tra dự thảo báo cáo, nghị quyết
Một là, chuẩn hóa quy trình thẩm tra theo hướng chặt chẽ, khoa học; xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể cho từng khâu, từng nội dung, bảo đảm việc kiểm soát chất lượng được thực hiện ổn định, nhất quán và có thể lượng hóa.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác thẩm tra; khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu, tăng cường ứng dụng các công cụ phân tích, xử lý thông tin nhằm nâng cao tính chính xác, kịp thời và khách quan trong đánh giá, nhận định.
Ba là, đổi mới phương pháp khảo sát theo hướng thực chất, chuyên sâu; tăng cường khảo sát cơ sở, đối thoại trực tiếp với các đối tượng chịu tác động, qua đó nắm bắt đầy đủ tình hình thực tiễn, nhận diện đúng những khó khăn, vướng mắc và “điểm nghẽn” của chính sách.
Bốn là, nâng cao chất lượng thẩm tra theo hướng tăng cường phân tích và phản biện độc lập; bảo đảm lập luận chặt chẽ, có cơ sở khoa học và thực tiễn, kiến nghị rõ ràng, khả thi. Đồng thời, đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo, coi đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện và chất lượng của dự thảo.
Năm là, chú trọng yếu tố con người; nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh và trách nhiệm của đại biểu HĐND trong công tác thẩm tra, bảo đảm tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám chịu trách nhiệm; qua đó phát huy đầy đủ vai trò của hoạt động thẩm tra, góp phần nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết của HĐND.






