Nghị quyết tạo căn cứ để phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm, phù hợp từng địa bàn, ưu tiên bảo tồn di sản, củng cố thiết chế văn hóa ở cơ sở và gắn phát triển văn hóa với du lịch, sinh kế của người dân.

Ưu tiên nguồn lực bảo tồn di sản, củng cố thiết chế văn hóa ở cơ sở.
Phân bổ vốn công khai và phù hợp đặc thù địa bàn
Nghị quyết áp dụng đối với các sở, ban, ngành; UBND xã, phường; các cơ quan, đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập, thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn, hằng năm.
Việc phân bổ vốn phải bảo đảm không vượt tổng mức vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, hiệu quả, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm địa bàn biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi của tỉnh.
Nguồn lực được ưu tiên cho việc tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia; bảo tồn, phục hồi di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh hoặc khuyến nghị bảo vệ; bảo tồn làng, bản gắn với du lịch cộng đồng, du lịch di sản và tạo sinh kế bền vững, nhất là cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Tiêu chí cụ thể làm căn cứ phân bổ
Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ cấp xã được phân bổ trên cơ sở tổng điểm của từng xã, phường, gồm năm nhóm tiêu chí: loại địa bàn, dân số, diện tích, di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, cùng lợi thế phát triển văn hóa, du lịch.
Theo loại địa bàn, xã đặc biệt khó khăn có hệ số 6,0; các xã còn lại 4,0; phường 2,0. Theo dân số, hệ số tăng từ 0,2 đối với địa bàn dưới 10.000 người lên 1,0 đối với địa bàn trên 30.000 người. Theo diện tích, hệ số từ 0,15 đối với địa bàn không quá 50 km² đến 0,95 đối với địa bàn trên 200 km². Di tích quốc gia đặc biệt có hệ số 5,0; di tích quốc gia có hệ số 1,4.
16 xã, phường thuộc Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn hoặc có thế mạnh phát triển văn hóa, du lịch được áp dụng hệ số bổ sung 10, gồm: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, Tân Trào, Kim Bình, Du Già, Xín Mần, Pà Vầy Sủ, Bắc Mê, Nà Hang, Lâm Bình, Hồng Thái, Minh Xuân, Hà Giang 1 và Hà Giang 2.
Mức vốn của từng địa phương được xác định theo số vốn tính cho một điểm và tổng điểm của xã, phường. Dữ liệu về loại xã, dân số, diện tích và di tích phải căn cứ quyết định hoặc số liệu của cơ quan có thẩm quyền. Khi dữ liệu thay đổi, UBND tỉnh cập nhật phương án phân bổ của năm kế hoạch tiếp theo, trình HĐND tỉnh quyết định.
Ưu tiên đưa nguồn lực về cơ sở
Đối với vốn đầu tư công, cấp tỉnh được bố trí không quá 60% để nâng cấp thiết chế văn hóa, thể thao cấp tỉnh; bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Cấp xã được bố trí tối thiểu 40% để xây mới, sửa chữa, nâng cấp thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở; xây dựng trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi, điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em và đồng bào ở vùng khó khăn; bảo tồn làng, bản gắn với du lịch cộng đồng và tạo sinh kế.
Đối với vốn sự nghiệp, cấp tỉnh được bố trí tối đa 40% để quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình. Cấp xã, phường được bố trí tối thiểu 60% theo phương pháp tính điểm. Quy định này thể hiện rõ định hướng đưa nguồn lực đến nơi trực tiếp tổ chức hoạt động văn hóa và phục vụ Nhân dân.
Ngân sách tỉnh bố trí vốn đối ứng không thấp hơn mức tối thiểu do trung ương quy định, bảo đảm đủ và kịp thời theo tiến độ. Nguồn đối ứng được ưu tiên cho nhiệm vụ, dự án chuyển tiếp và những nhiệm vụ cần hoàn thành để đạt mục tiêu đến năm 2030; không bố trí cho nhiệm vụ, dự án chưa đủ điều kiện theo pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước.

Ảnh infographics minh họa có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Tạo cơ sở nâng cao hiệu quả đầu tư cho văn hóa
Ý nghĩa nổi bật của Nghị quyết là cụ thể hóa yêu cầu ưu tiên phát triển văn hóa thành các tiêu chí, hệ số có thể đo lường. Mỗi địa phương được xem xét đồng thời về mức độ khó khăn, số dân, diện tích, di sản và lợi thế phát triển. Việc phân bổ vốn vì thế có căn cứ rõ ràng hơn, tạo điều kiện để địa phương chủ động xây dựng kế hoạch và để cử tri, Nhân dân theo dõi, giám sát.
Đối với Tuyên Quang, địa bàn rộng, nhiều khu vực miền núi, biên giới, đông đồng bào dân tộc thiểu số và có nhiều di sản giá trị, cơ chế này góp phần giải quyết hài hòa yêu cầu bảo tồn di sản với mở rộng khả năng tiếp cận, thụ hưởng văn hóa. Việc dành tối thiểu 40% vốn đầu tư công và 60% vốn sự nghiệp cho cấp xã, phường tạo điều kiện cải thiện thiết chế, không gian sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động văn hóa, vui chơi ở cơ sở.
Nghị quyết còn định hướng kết hợp bảo tồn với phát triển. Nguồn lực dành cho làng, bản, di sản và địa bàn có thế mạnh du lịch có thể hỗ trợ cộng đồng gìn giữ bản sắc, phát triển sản phẩm văn hóa, du lịch phù hợp và tạo thêm sinh kế. Để đạt hiệu quả, dự án phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, tôn trọng chủ thể văn hóa, tránh đầu tư dàn trải hoặc thương mại hóa làm sai lệch giá trị di sản.
Trong tổ chức thực hiện, UBND tỉnh cần lựa chọn đúng danh mục ưu tiên, chuẩn bị dự án đầy đủ, phân bổ và giải ngân đúng tiến độ, quản lý chặt chẽ chất lượng công trình, hoạt động. Thường trực HĐND tỉnh, các Ban, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh giám sát việc thực hiện, tập trung vào tính công khai, đúng đối tượng, tỷ lệ vốn dành cho cơ sở, hiệu quả sau đầu tư và khả năng duy trì hoạt động của các thiết chế văn hóa.
Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ ngày 28/8/2026. Hệ thống tiêu chí cụ thể cùng định hướng ưu tiên cơ sở là căn cứ để Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2026–2030 được triển khai thống nhất, sát thực tiễn, góp phần bảo tồn di sản, nâng cao đời sống văn hóa của Nhân dân và phát huy giá trị văn hóa trong phát triển bền vững của tỉnh./.






