Đại biểu Ma Thị Thúy cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí, thống nhất với nhiều nội dung trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính; đồng thời đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở Tổ, thể hiện khá đầy đủ trong dự thảo mới.

Toàn cảnh phiên họp thảo luận tại hội trường.
Góp ý về Điều 19 quy định các loại hợp đồng dầu khí và nội dung chính của hợp đồng dầu khí, đại biểu cho rằng, khi nội dung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đã được đưa vào nội dung chính của hợp đồng dầu khí thì đây không còn là một cam kết mang tính khuyến khích của nhà thầu, mà đã trở thành nội dung có cơ sở pháp lý để xác định, định lượng, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Theo đại biểu, khoản 4 Điều 19 giao Chính phủ quy định hợp đồng mẫu có ý nghĩa rất quan trọng, bởi hợp đồng mẫu là công cụ để cụ thể hóa các yêu cầu của Luật, tạo cơ sở thống nhất cho quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng dầu khí. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 55 đã đặt đào tạo, chuyển giao công nghệ thành nghĩa vụ của nhà thầu, cùng với các nghĩa vụ về thuế, an toàn và bảo vệ môi trường. Đại biểu cho rằng đây là bước chuyển quan trọng, khi phát triển nguồn nhân lực và năng lực công nghệ không chỉ là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà đã trở thành nghĩa vụ pháp lý gắn với hoạt động dầu khí.
Đối với việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước, đại biểu đồng tình với cách tiếp cận của dự thảo là không quy định cứng một tỷ lệ bắt buộc. Theo đại biểu, chưa nên ấn định một tỷ lệ cứng ngay trong Luật, bởi đặc thù về kỹ thuật, quy mô, điều kiện khai thác và khả năng cung ứng trong nước của từng dự án là khác nhau.
Đại biểu cũng đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến thẩm tra, chuyển nội dung khuyến khích sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp trong nước từ khoản 13 Điều 55 sang Điều 5 của dự thảo mới. Theo đại biểu, đây là chỉnh lý hợp lý về kỹ thuật lập pháp, bởi Điều 5 quy định chính sách của Nhà nước, còn Điều 55 quy định nghĩa vụ của nhà thầu; nội dung này trước hết mang tính chính sách khuyến khích, không nên đồng nhất với nghĩa vụ bắt buộc khi điều kiện thực tế chưa cho phép.
Từ những quy định trên, đại biểu Ma Thị Thúy đề nghị dự thảo Luật cần có một chính sách riêng, rõ hơn về phát triển nguồn nhân lực dầu khí.
Cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 5 một khoản riêng về chính sách phát triển nguồn nhân lực dầu khí. Theo đại biểu, Điều 5 của dự thảo mới đã quan tâm quy định khá toàn diện đến vốn, tài nguyên, hạ tầng, công nghệ và thị trường, nhưng vẫn còn thiếu một yếu tố có tính quyết định đó là con người.

Đại biểu Quốc hội Ma Thị Thuý tham gia phát biểu tại hội trường.
Đối với giải trình của cơ quan soạn thảo cho rằng chính sách về nhân lực chất lượng cao và năng lực công nghệ nội sinh đã được thể hiện “ở các mức độ khác nhau” trong dự thảo, đại biểu cho rằng cách giải trình này là có cơ sở, nhưng “được thể hiện ở các mức độ khác nhau” chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành một chính sách rõ ràng. Điều 19 và Điều 55 đặt ra nghĩa vụ đối với nhà thầu, trong khi Điều 5 phải thể hiện chính sách và trách nhiệm của Nhà nước; hai nội dung này không thể thay thế cho nhau.
Theo đại biểu, nếu xác định dầu khí là ngành công nghiệp có yêu cầu cao về khoa học, công nghệ và kỹ thuật thì phát triển nhân lực chất lượng cao, làm chủ công nghệ và hình thành năng lực nghiên cứu trong nước phải được xác định là một chính sách của Nhà nước.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 5 một khoản mới là khoản 8 theo hướng: “Nhà nước có chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ phục vụ phát triển ngành dầu khí”.
Đại biểu cho rằng, quy định như vậy sẽ tạo định hướng chính sách lâu dài, để sau khi tài nguyên được khai thác, đất nước vẫn giữ lại được nguồn lực có giá trị nhất là con người, tri thức và công nghệ.
Góp ý về Điều 31 liên quan đến dự án có chuỗi đồng bộ các hạng mục trên đất liền và trên biển, đại biểu đồng tình với giải trình của cơ quan soạn thảo là không nhất thiết phải quy định riêng trong Luật trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, bởi vấn đề này đã được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Chính phủ khi quy định chi tiết về trình tự, thủ tục và cơ chế phối hợp cần làm rõ hơn vai trò của chính quyền địa phương, nhất là việc lấy ý kiến của chính quyền cấp tỉnh và các nội dung liên quan trực tiếp đến người dân trong vùng dự án. Trong đó, cần quan tâm đầy đủ đến phương án tái định cư, bảo đảm sinh kế, việc làm và ổn định đời sống của người dân bị ảnh hưởng.
Đánh giá cao tinh thần cải cách, rút ngắn thủ tục của dự thảo, đại biểu cho rằng thực tế cho thấy, dù thủ tục ở Trung ương được đơn giản hóa, dự án vẫn có thể chậm nếu các vấn đề tại địa phương, nhất là tái định cư, chưa được giải quyết tốt.
Theo đại biểu, để tạo đồng thuận và đẩy nhanh tiến độ, cần bảo đảm phương án tái định cư rõ ràng, sinh kế, việc làm và quyền lợi chính đáng của người dân; đồng thời tăng cường đối thoại, giải thích đầy đủ. Đây không chỉ là bảo đảm quyền lợi người dân mà còn là giải pháp quan trọng để tạo đồng thuận xã hội và rút ngắn tiến độ dự án.
Trên cơ sở các nội dung góp ý, đại biểu Ma Thị Thúy thống nhất thông qua dự án Luật tại Kỳ họp này.






