Đại biểu Quốc hội Vương Thị Hương góp ý hoàn thiện dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Ngày 09/8/2026, Quốc hội làm việc cả ngày tại hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang tham dự phiên họp.

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Quốc hội Vương Thị Hương tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đại biểu cho rằng Báo cáo dự kiến tiếp thu, giải trình bước đầu cho thấy cơ quan soạn thảo đã nghiêm túc nghiên cứu, dự kiến tiếp thu một số nội dung và giải trình thêm những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; tuy nhiên, một số phương án dự kiến tiếp thu vẫn cần được đánh giá kỹ hơn về tính hợp hiến, thống nhất, khả thi và phù hợp với thực tiễn.

Về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách tại Điều 2, đại biểu cho rằng dự thảo mới quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân, chưa quy định quyền, nghĩa vụ của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trong phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách.

Đại biểu Quốc hội Vương Thị Hương phát biểu tham gia ý kiến.

Theo đại biểu, Luật Tiếp cận thông tin cho phép người nước ngoài cư trú tại Việt Nam yêu cầu cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, quyền yêu cầu cung cấp thông tin không đồng nhất với quyền được tiếp cận, thụ hưởng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách. Trong khi Điều 1 điều chỉnh trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nội dung của dự thảo được áp dụng rộng rãi, Điều 2 lại chỉ xác định chủ thể có quyền là công dân. Đại biểu cho rằng quy định như vậy chưa bảo đảm thống nhất trong nội bộ dự thảo và chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu tiếp cận pháp luật của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 2 quy định theo hướng người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có quyền tiếp cận, thụ hưởng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách đối với nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình; có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Về quản lý nhà nước tại Điều 6, đại biểu đề nghị không giao Chính phủ quy định toàn bộ thẩm quyền quản lý nhà nước, vì chưa bảo đảm các nguyên tắc phân định thẩm quyền trong hệ thống pháp luật.

Phân tích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu cho rằng nghị định chỉ cụ thể hóa điều, khoản, điểm và nội dung đã được luật giao. Trong khi đó, khoản 1 Điều 6 dự thảo Luật mới xác định nguyên tắc “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước”, chưa quy định cơ quan đầu mối, trách nhiệm của các bộ và chính quyền địa phương. Nếu giữ như dự thảo, Nghị định sẽ phải tự xác lập toàn bộ hệ thống thẩm quyền quản lý nhà nước, không còn là văn bản quy định chi tiết Luật.

Đại biểu cũng dẫn quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 về phân quyền cho chính quyền địa phương, yêu cầu xác định rõ chủ thể, nội dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, không để trùng lặp, chồng chéo và phải gắn thẩm quyền với trách nhiệm giải trình. Theo đó, trách nhiệm cơ bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cần được quy định ngay trong Luật, không nên giao Nghị định xác lập.

Đại biểu đề nghị quy định ngay tại Điều 6 dự thảo Luật các nội dung quản lý nhà nước theo hướng khái quát, ổn định, bảo đảm nguyên tắc Luật xác lập thẩm quyền và trách nhiệm, Nghị định quy định cách thức tổ chức thực hiện; Chính phủ chỉ quy định cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, kiểm tra, đánh giá và biện pháp tổ chức thi hành.

Về trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý tại khoản 1 Điều 31, đại biểu cho rằng Báo cáo giải trình xác định đây là cơ chế “khuyến khích”, trong khi dự thảo lại quy định tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý “có trách nhiệm” chủ động hoặc phối hợp phổ biến pháp luật cho thành viên, hội viên và Nhân dân.

Theo đại biểu, trách nhiệm phổ biến cho “Nhân dân” không giới hạn phạm vi, đối tượng và kinh phí, có thể biến trách nhiệm xã hội thành nghĩa vụ cung cấp dịch vụ miễn phí; đồng thời, nếu áp dụng khoản 6 Điều 9 về hành vi bị nghiêm cấm còn có thể dẫn đến xử lý khi không thực hiện đầy đủ trách nhiệm.

Đại biểu đề nghị chỉ quy định bắt buộc tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý giải thích, cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến dịch vụ và khách hàng; việc tham gia phổ biến pháp luật cho cộng đồng được khuyến khích hoặc thực hiện theo cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng.

Về trách nhiệm của cơ quan báo chí tại khoản 1 Điều 12 và khoản 3 Điều 29, đại biểu cho rằng việc nâng cao khả năng tiếp cận thông tin pháp luật là cần thiết; tuy nhiên, quy định nội dung pháp luật phải được bố trí ở vị trí dễ tiếp cận hoặc phát vào “khung giờ thu hút đông đảo khán giả” chưa có tiêu chí xác định về thời điểm, tần suất, thời lượng, đồng thời can thiệp trực tiếp vào kế hoạch nội dung của cơ quan báo chí. Nếu đây là nhiệm vụ bắt buộc thì phải gắn với cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và bảo đảm kinh phí.

Đại biểu cũng cho rằng cụm từ “định hướng dư luận” có phạm vi quá rộng; trong truyền thông chính sách có thể dẫn đến nhầm lẫn giữa ý kiến góp ý, phản biện hợp pháp với thông tin sai lệch cần phản bác.

Từ đó, đại biểu kiến nghị sửa khoản 1 Điều 12 theo hướng cơ quan báo chí bố trí vị trí, thời lượng phù hợp với tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ và nhiệm vụ được giao, đặt hàng. Đối với khoản 3 Điều 29, đề nghị quy định cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp, kiểm chứng, đính chính thông tin về chính sách, pháp luật; kịp thời phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc trên cơ sở nguồn thông tin chính thức, đã được xác minh; bảo đảm quyền góp ý, phản biện và phản ánh ý kiến xã hội theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Phòng Công tác Quốc hội

Tin cùng chuyên mục