Thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững tại Tuyên Quang theo tinh thần Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND

Trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, bảo vệ quỹ đất lúa không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với bảo đảm an ninh lương thực và ổn định đời sống người dân. Với quan điểm phát triển nông nghiệp gắn với sinh kế bền vững của nông dân, tỉnh Tuyên Quang đang từng bước cụ thể hóa chủ trương, chính sách bằng những giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương. Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XX đã ban hành Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND quy định về nguyên tắc, phạm vi, định mức và việc sử dụng kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh. Nghị quyết là cơ sở quan trọng để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ sản xuất, khuyến khích người dân duy trì, phát triển diện tích đất lúa, nâng cao hiệu quả canh tác, từng bước cải thiện thu nhập; qua đó góp phần củng cố nền tảng an ninh lương thực, phát triển kinh tế nông thôn và tạo động lực xây dựng nền nông nghiệp Tuyên Quang theo hướng hiện đại, bền vững trong giai đoạn mới.

Đưa chính sách đến sát thực tiễn, nguồn lực đến đúng đối tượng

Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND ra đời dựa trên sự kế thừa và cụ thể hóa các quy định của Trung ương, đặc biệt là Nghị định số 112/2024/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý đất trồng lúa, được sửa đổi, bổ sung bởi các Nghị định của Chính phủ. Điểm nổi bật đầu tiên của Nghị quyết chính là sự minh bạch và phân cấp mạnh mẽ trong quản lý ngân sách hỗ trợ.


Người dân xã Quang Bình thu hoạch lúa vụ Xuân.

Theo quy định tại Điều 2, toàn bộ kinh phí hỗ trợ sẽ được phân bổ trực tiếp cho các xã, phường có diện tích đất trồng lúa; đảm bảo nguồn lực tài chính được đưa đến tận tay người sản xuất và chính quyền cấp xã - nơi trực tiếp quản lý và thực hiện các hoạt động canh tác. Nguyên tắc xuyên suốt là hỗ trợ phải đảm bảo công khai, đúng mục đích và hiệu quả, tránh tình trạng đầu tư dàn trải hoặc chồng chéo các chính sách. Đặc biệt, Nghị quyết quy định rõ: Nếu một đối tượng thụ hưởng cùng lúc đáp ứng điều kiện của nhiều chính sách khác nhau thì sẽ được hưởng mức hỗ trợ cao nhất, giúp tối ưu hóa quyền lợi cho người nông dân.

Định mức hỗ trợ: Tập trung vào chất lượng và công nghệ

Nghị quyết đã xây dựng một hệ thống định mức hỗ trợ toàn diện, bao phủ hầu hết các mắt xích trong chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo, từ khâu giống, kỹ thuật canh tác đến liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Hỗ trợ 100% kinh phí cho các yếu tố nền tảng: Tỉnh xác định giống lúa và kỹ thuật là "chìa khóa" để nâng cao năng suất. Do đó, Nghị quyết quy định hỗ trợ 100% kinh phí sử dụng giống lúa hợp pháp để sản xuất. Song song với đó, các hoạt động khuyến nông, đào tạo, tập huấn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cũng được ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ (100%). Đây là một nỗ lực rất lớn của tỉnh nhằm tri thức hóa người nông dân, giúp họ tiếp cận với các phương thức canh tác hiện đại.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cải tạo đất: Để phát triển nông nghiệp xanh, Nghị quyết hỗ trợ tối đa 40% kinh phí cho các mô hình áp dụng quy trình sản xuất, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Đặc biệt, vấn đề bảo vệ độ phì nhiêu của đất được đặc biệt quan tâm với mức hỗ trợ 100% kinh phí mua chế phẩm sinh học, vi sinh để xử lý rơm rạ hoặc mua phân hữu cơ, vôi bột để cải tạo đất. Điều này cho thấy tầm nhìn dài hạn của tỉnh trong việc bảo vệ tài nguyên đất lúa cho tương lai.

Ưu tiên vùng khó khăn và liên kết chuỗi: Chính sách hỗ trợ mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được phân định rõ theo địa bàn để đảm bảo tính công bằng xã hội. Theo đó, các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn sẽ nhận mức hỗ trợ tối đa lên đến 80% tổng kinh phí thực hiện mô hình, trong khi vùng khó khăn là 70% và các vùng còn lại là 50%. Việc tập trung nguồn lực cho các mô hình liên kết không chỉ giúp ổn định đầu ra mà còn hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.


Ảnh infographics minh họa có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Cơ chế sử dụng kinh phí: Đảm bảo hiệu quả thực chất

Một trong những điểm mới mang tính của Nghị quyết chính là quy định về tỷ lệ sử dụng kinh phí tại cấp xã. Để tránh việc nguồn vốn bị sử dụng sai mục đích hoặc chỉ tập trung vào hạ tầng mà quên đi sản xuất, Nghị quyết yêu cầu: Sử dụng không thấp hơn 50% kinh phí được giao để thực hiện trực tiếp các hoạt động sản xuất như: Xây dựng mô hình trình diễn; sử dụng giống lúa hợp pháp để sản xuất; áp dụng quy trình sản xuất, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; hoạt động khuyến nông; tổ chức đào tạo, tập huấn, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

Phần kinh phí còn lại (dưới 50%) mới được dành cho các hoạt động phụ trợ như cải tạo, nâng cao chất lượng đất trồng lúa; sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã; hỗ trợ mua bản quyền sở hữu giống lúa được bảo hộ; quy định này yêu cầu chính quyền địa phương phải ưu tiên đầu tư vào những hoạt động tạo ra giá trị trực tiếp trên đồng ruộng, thúc đẩy tăng trưởng năng suất và chất lượng lúa gạo.

Đối với việc mua bản quyền sở hữu giống lúa, Nghị quyết cũng mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn khi hỗ trợ tối đa 50% kinh phí (không quá 200 triệu đồng/giống). Điều này khuyến khích việc làm chủ công nghệ sinh học và bản quyền giống ngay tại địa phương, giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống bên ngoài.

Vai trò của công tác quản lý và giám sát

Nghị quyết giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, đồng thời đề cao vai trò giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị sẽ đảm bảo chính sách đi vào cuộc sống một cách công bằng và minh bạch nhất.

Cấp xã đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn nội dung chi để tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; sự chủ động này giúp chính sách không bị cứng nhắc, mà linh hoạt theo đặc điểm thổ nhưỡng và tập quán canh tác của từng vùng.

Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang là một chính sách nhân văn, mang đậm tính thực tiễn và tinh thần đồng hành cùng nhà nông. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa hỗ trợ trực tiếp và đầu tư chiều sâu vào khoa học công nghệ, Nghị quyết không chỉ giúp người nông dân "giữ đất, giữ nghề" mà còn mở ra con đường làm giàu từ cây lúa. Trong thời gian tới, với sự quyết liệt trong triển khai và sự đồng thuận của nhân dân, tin tưởng rằng sản xuất lúa gạo của Tuyên Quang sẽ phát triển bền vững, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên quê hương cách mạng.

Hoàng Loan

Tin cùng chuyên mục