Tuyên Quang chú trọng nâng cao chất lượng dân số trong tình hình mới

Nâng cao chất lượng dân số đang trở thành một yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Công tác dân số không chỉ hướng tới duy trì mức sinh hợp lý, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh hay thích ứng với già hóa dân số, mà ngày càng chú trọng nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và chất lượng cuộc sống của mỗi người dân.

Theo định hướng của Đảng, Nhà nước, trọng tâm công tác dân số đã chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, gắn chặt với chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.


Theo Luật Dân số năm 2025, phụ nữ mang thai sẽ được tư vấn và khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh (chính sách có hiệu lực từ 1/7/2026 theo từng lộ trình ưu tiên).

Chủ động cụ thể hóa yêu cầu nâng cao chất lượng dân số

Nhận thức rõ ý nghĩa đó, tỉnh Tuyên Quang đã quan tâm đưa nhiệm vụ nâng cao chất lượng dân số vào quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về y tế, dân số và phát triển. Ngày 08/9/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 346/KH-UBND về tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh đến năm 2030. Đây là một bước triển khai cụ thể Luật Dân số năm 2025, Nghị định số 168/2026/NĐ-CP của Chính phủ và chủ trương của tỉnh về công tác dân số trong tình hình mới.

Việc triển khai được đặt trong điều kiện một tỉnh miền núi, địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn còn khó khăn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng dịch vụ mà còn phải bảo đảm người dân ở các khu vực khác nhau đều có cơ hội tiếp cận thông tin, tư vấn và chăm sóc sức khỏe phù hợp. Tỉnh xác định ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, xã đặc biệt khó khăn và những nhóm dân cư còn hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế, từng bước thu hẹp khoảng cách về chăm sóc sức khỏe giữa các địa bàn.

Các mục tiêu đến năm 2030 thể hiện khá rõ hướng tiếp cận này, đó là phấn đấu 80% cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; giảm 15% số cặp tảo hôn so với năm trước và không để xảy ra kết hôn cận huyết thống. Đối với phụ nữ mang thai, tỉnh đặt mục tiêu 60% được tầm soát ít nhất bốn bệnh, tật bẩm sinh phổ biến, gồm hội chứng Down, Edwards, Patau và bệnh Thalassemia. Đối với trẻ sơ sinh, mục tiêu là 80% được sàng lọc ít nhất năm bệnh phổ biến: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh và bất thường tim bẩm sinh nặng.

Chăm sóc sức khỏe từ sớm vì tương lai mỗi gia đình

Việc tỉnh chỉ đạo tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn giúp nam, nữ thanh niên hiểu rõ tình trạng sức khỏe của bản thân, nguy cơ mắc hoặc mang gen bệnh di truyền; đồng thời được cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn, phòng tránh bệnh lây truyền và chuẩn bị tâm lý, kiến thức cho đời sống hôn nhân. Hoạt động này không phải là rào cản đối với quyền kết hôn, mà là cách hỗ trợ mỗi người có thêm thông tin khoa học để chủ động, có trách nhiệm với bản thân, người bạn đời và thế hệ tương lai.

Sàng lọc trước sinh và sơ sinh tiếp tục nối dài quá trình chăm sóc ấy. Nhiều bệnh, tật bẩm sinh nếu được phát hiện sớm có thể được theo dõi, chẩn đoán, điều trị hoặc can thiệp kịp thời, giúp trẻ có thêm cơ hội phát triển tốt về thể chất và trí tuệ. Bởi vậy, hiệu quả của công tác sàng lọc không chỉ thể hiện ở tỷ lệ người được tiếp cận dịch vụ, mà quan trọng hơn là chất lượng tư vấn, khả năng quản lý trường hợp nguy cơ và sự liên thông giữa phát hiện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sau can thiệp.

Đưa dịch vụ thiết yếu đến gần người dân

Để các mục tiêu không dừng lại ở tỷ lệ phấn đấu, tỉnh chú trọng đồng thời nhiều nhóm nhiệm vụ. Trước hết là rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức thống nhất quy trình và tiêu chuẩn chuyên môn; thường xuyên kiểm tra cơ sở cung cấp dịch vụ, trang thiết bị, sinh phẩm và việc tuân thủ quy định chuyên ngành. Trên cơ sở quy định của Trung ương và khả năng cân đối nguồn lực, tỉnh nghiên cứu hỗ trợ các nhóm yếu thế, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người dân tại địa bàn đặc biệt khó khăn sử dụng các gói dịch vụ cơ bản theo quy định.

Mạng lưới cung cấp dịch vụ sẽ được củng cố theo hướng tăng khả năng tiếp cận ngay từ cơ sở, đồng thời bảo đảm người dân được tư vấn đầy đủ trước, trong và sau khi thực hiện. Trang thiết bị cần được bố trí phù hợp, ưu tiên nơi còn khó khăn; đội ngũ y tế, dân số và cộng tác viên được đào tạo, cập nhật kiến thức, chuyển giao kỹ thuật. Đối với các kỹ thuật vượt quá khả năng tuyến cơ sở, việc hướng dẫn, chuyển tuyến và theo dõi phải rõ ràng, tránh để người dân tự xoay xở sau khi phát hiện nguy cơ.

Phát huy vai trò của HĐND các cấp

Nâng cao chất lượng dân số là nhiệm vụ lâu dài, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Trong quá trình đó, HĐND các cấp có vai trò xem xét, quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền về cơ chế, chính sách và phân bổ nguồn lực; quan tâm bảo đảm kinh phí phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, ưu tiên nhóm yếu thế, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn đặc biệt khó khăn. Khi xem xét chính sách, cần coi khả năng tiếp cận công bằng và hiệu quả thực chất của dịch vụ là những tiêu chí quan trọng.

Hoạt động giám sát của HĐND cần tập trung vào tiến độ, chất lượng thực hiện các mục tiêu; năng lực y tế cơ sở; việc xác định đối tượng hỗ trợ; quản lý kinh phí, trang thiết bị, sinh phẩm; kết quả phòng, chống tảo hôn và kết hôn cận huyết thống. Việc xem xét số liệu cần kết hợp khảo sát tại cơ sở, lắng nghe cán bộ chuyên môn và người thụ hưởng để nhận diện đúng những vướng mắc về khoảng cách địa lý, chi phí, tâm lý e ngại, thiếu nhân lực hoặc hạn chế trong chuyển tuyến.

Sự quan tâm của Tuyên Quang đối với tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho thấy nâng cao chất lượng dân số đang được triển khai từ những khâu sớm nhất của vòng đời. Để đạt kết quả bền vững, cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, ngành y tế, chính quyền cơ sở, các tổ chức đoàn thể, gia đình và mỗi người dân. Khi dịch vụ thiết yếu được đưa đến gần dân, người dân chủ động tham gia và việc thực hiện được giám sát chặt chẽ, các mục tiêu đến năm 2030 sẽ từng bước trở thành kết quả cụ thể, góp phần xây dựng nguồn nhân lực khỏe mạnh và nâng cao chất lượng cuộc sống trên địa bàn tỉnh./.

Trường Giang CV

Tin cùng chuyên mục