Hoàn thiện chính sách phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế

Ngày 09/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế. Nghị định mở rộng phạm vi áp dụng, quy định cụ thể các mức phụ cấp từ 30% đến 80% theo tính chất công việc, mức độ tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm và địa bàn công tác. Chính sách góp phần ghi nhận đặc thù nghề nghiệp, cải thiện điều kiện đãi ngộ và góp phần giữ chân nhân lực, nhất là ở y tế cơ sở và lĩnh vực có nguy cơ cao.

Phạm vi áp dụng rộng hơn

Nghị định quy định đối tượng, nguyên tắc áp dụng, cách tính, mức hưởng, thời gian hưởng và nguồn chi trả phụ cấp ưu đãi nghề. Đối tượng áp dụng gồm viên chức, người lao động làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành y tế; trạm y tế xã, phường, đặc khu; nhân viên y tế trường học tại cơ sở giáo dục công lập; người làm chuyên môn y tế thuộc lực lượng vũ trang.

Phạm vi công việc trải rộng từ phòng bệnh, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y dược cổ truyền, dược, an toàn thực phẩm, thiết bị y tế đến giám định y khoa, pháp y, dân số và bảo trợ xã hội. Quy định rõ phạm vi giúp các đơn vị thống nhất xác định người được hưởng.


Hoàn thiện chính sách phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế theo Nghị định 350/2026/NĐ-CP. Ảnh minh họa.

Chính sách đãi ngộ gắn với đặc thù nghề nghiệp

Nghị định tiếp tục cụ thể hóa chính sách của Nhà nước đối với đội ngũ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Việc phân định mức phụ cấp theo tính chất công việc, nguy cơ nghề nghiệp và địa bàn công tác giúp chế độ đãi ngộ sát hơn với điều kiện làm việc thực tế, nhất là đối với người làm việc ở môi trường nguy hiểm và vùng khó khăn.

Chính sách còn góp phần ổn định đội ngũ trong bối cảnh nhiều cơ sở y tế thiếu nhân lực. Phụ cấp là nguồn động viên thiết thực, khuyến khích nhân viên y tế gắn bó với nghề, tuyến cơ sở và địa bàn khó khăn. Phạm vi đối tượng rộng hơn cũng tạo cơ sở thực hiện thống nhất giữa các đơn vị.

6 mức phụ cấp theo công việc và địa bàn

Mức phụ cấp 80% áp dụng đối với viên chức thường xuyên, trực tiếp khám, điều trị, xét nghiệm, chăm sóc người bệnh tâm thần; làm công tác pháp y, pháp y tâm thần; hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh. Mức này cũng áp dụng đối với viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng ở địa bàn biên giới, hải đảo, xã khu vực II và khu vực III vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Mức 70% dành cho người trực tiếp chăm sóc, điều trị người khuyết tật đặc biệt nặng; người mắc bệnh phong, lao, bệnh truyền nhiễm nhóm A, HIV/AIDS, trẻ sơ sinh; bảo quản xác; làm việc tại phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III, cấp IV; điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện. Mức này còn áp dụng tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng ở các khu vực còn lại, trung tâm kiểm soát bệnh tật, trung tâm kiểm dịch y tế biên giới và viện y tế dự phòng.

Mức 60% áp dụng với một số công việc có nguy cơ cao như chăm sóc người mắc bệnh truyền nhiễm; xét nghiệm tác nhân gây bệnh, độc chất; xạ trị, hóa trị, y học hạt nhân, sinh học phân tử; pha chế dược chất phóng xạ, thuốc điều trị ung thư; giám sát và lấy mẫu bệnh phẩm tại cộng đồng.

Mức 50% áp dụng với viên chức thường xuyên, trực tiếp chăm sóc người khuyết tật nặng; người bệnh gây mê hồi sức, bỏng, da liễu, nhi; thực hiện chẩn đoán hình ảnh, kiểm soát nhiễm khuẩn và dược lâm sàng.

Mức 40% áp dụng cho nhóm công việc chuyên môn y tế rộng hơn, gồm khám chữa bệnh, xét nghiệm, phục hồi chức năng, giám định y khoa, y dược cổ truyền, dược, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng, thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số công việc bảo trợ xã hội. Viên chức không trực tiếp làm chuyên môn tại một số cơ sở chuyên khoa cũng hưởng mức này.

Mức 30% áp dụng với viên chức làm truyền thông giáo dục sức khỏe, dân số không thuộc mức cao hơn; nhân viên y tế trường học công lập và viên chức không trực tiếp làm chuyên môn y tế tại các đơn vị sự nghiệp công lập của ngành y tế.


Ảnh infographics minh họa có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Cách tính và nguyên tắc hưởng

Phụ cấp ưu đãi nghề được tính theo tỷ lệ phần trăm trên hệ số lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, hệ số chênh lệch bảo lưu và phụ cấp thâm niên vượt khung nếu có. Khoản phụ cấp được trả cùng kỳ lương hằng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

Một người được phân công nhiều công việc có mức phụ cấp khác nhau chỉ hưởng mức cao nhất. Để được xác định là thường xuyên làm công việc chuyên môn, thời gian thực hiện phải đạt tối thiểu 50% thời giờ làm việc bình thường trong tháng theo quy định của Bộ luật Lao động.

Người lao động hợp đồng được xếp lương theo bảng lương viên chức và trực tiếp làm công việc quy định tại Nghị định được hưởng mức tương ứng. Các trường hợp hợp đồng còn lại thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Những thời gian không tính hưởng phụ cấp

Nghị định quy định bốn nhóm thời gian không được tính hưởng phụ cấp: đi công tác, làm việc hoặc học tập trong và ngoài nước từ một tháng trở lên mà không làm công việc chuyên môn y tế theo vị trí việc làm; nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ một tháng trở lên; nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; bị đình chỉ công tác, tạm giữ hoặc tạm giam. Quy định này giúp việc chi trả gắn với thời gian và công việc thực tế.

Tổ chức thực hiện công khai và đúng đối tượng

Kinh phí thực hiện được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp, nguồn thu hoạt động sự nghiệp và các nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị. Bộ Tài chính và UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm bố trí kinh phí theo phân cấp; việc quản lý, sử dụng và quyết toán thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước.

Người đứng đầu đơn vị phải xác định đúng đối tượng, công việc, thời gian thực tế và mức hưởng; công khai danh sách trong nội bộ; định kỳ rà soát khi có thay đổi. Các trường hợp xác định sai đối tượng, sai mức hưởng hoặc chi trả không đúng quy định sẽ bị kiểm tra, xử lý.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 09/9/2026. Riêng các mức phụ cấp quy định tại Nghị định được thực hiện từ ngày 01/01/2026. Như vậy, thời điểm Nghị định có hiệu lực và thời điểm thực hiện mức phụ cấp là hai mốc khác nhau; cơ quan, đơn vị cần rà soát đầy đủ đối tượng và thời gian thực tế để tổ chức chi trả theo đúng quy định. Nghị định đồng thời thay thế Nghị định số 56/2011/NĐ-CP và bãi bỏ một số quy định liên quan tại Nghị định số 26/2016/NĐ-CP.

Đối với Tuyên Quang, địa bàn rộng, có nhiều xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới, chính sách mới góp phần củng cố nhân lực y tế tuyến cơ sở. Các cơ quan, đơn vị cần sớm rà soát vị trí việc làm, lập danh sách và dự toán kinh phí, bảo đảm quyền lợi nhưng không để trùng hưởng hoặc chi sai. HĐND tỉnh và HĐND cấp xã cần quan tâm bố trí nguồn lực, theo dõi và giám sát việc thực hiện, nhất là tại địa bàn khó khăn./.

Mời bạn đọc xem chi tiết nội dung Nghị định 350/NĐ-CP tại đây

Ngọc Dũng

Tin cùng chuyên mục