Tuyên Quang: Từng bước bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa

Thực hiện Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa các nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn. Công tác quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên nước từng bước chuyển theo hướng tổng hợp, liên ngành; hệ thống thủy lợi, cấp nước, thủy điện được quan tâm đầu tư, quản lý, vận hành, góp phần phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội.

Bảo đảm an ninh nguồn nước là nhiệm vụ thường xuyên

Tuyên Quang có địa hình miền núi chia cắt, hệ thống sông, suối dày, nguồn nước mặt tập trung chủ yếu trên lưu vực sông Lô - Gâm, sông Chảy và các phụ lưu. Nguồn nước có vai trò thiết yếu đối với sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, dịch vụ và bảo vệ môi trường.

Các cấp ủy, chính quyền đã quán triệt, triển khai Kết luận số 36-KL/TW gắn với quản lý tài nguyên nước, thủy lợi, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, rừng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 06/12/2025; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 31/12/2025, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm thực hiện.

Công tác bảo đảm an ninh nguồn nước ngày càng được tiếp cận theo hướng tổng hợp, gắn quản lý tài nguyên nước với thủy lợi, thủy điện, cấp nước sạch, bảo vệ rừng, môi trường và phòng, chống thiên tai; huy động sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, chủ công trình và cộng đồng.


Nhà máy thủy điện Tuyên Quang tại xã Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Hạ tầng thủy lợi phát huy vai trò trong bảo đảm nguồn nước

Toàn tỉnh có 6.742 công trình thủy lợi, gồm 498 hồ chứa, 3.442 đập dâng, 2.722 công trình bán kiên cố, công trình tạm và 80 trạm bơm; tổng chiều dài hệ thống kênh mương trên 8.000 km. Đến năm 2025, hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới, tiêu, cấp nước cho trên 79.000 ha cây trồng; diện tích cây trồng cạn áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt trên 550 ha.

Tỉnh từng bước chuyển từ xử lý tình huống sang quản lý chủ động theo kịch bản. Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước mùa cạn năm 2026 xác định thứ tự ưu tiên cấp nước, trước hết là nước sinh hoạt, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng; yêu cầu xây dựng phương án khai thác, sử dụng nước theo từng công trình, khu vực và từng tháng.

Nâng cao khả năng tiếp cận nước sạch

Khả năng tiếp cận nước sạch của người dân từng bước được cải thiện. Khu vực đô thị có 47 công trình, hệ thống cấp nước đang hoạt động, tổng công suất thiết kế khoảng 68.016 m³/ngày đêm, công suất khai thác thực tế khoảng 50.392 m³/ngày đêm. Tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước từ hệ thống tập trung đạt quy chuẩn khoảng 85,41%; tổng tỷ lệ hộ dân đô thị sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh khoảng 99%.

Ở nông thôn, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tăng từ 43,4% năm 2022 lên 44,98% năm 2025. Giai đoạn 2023-2025, khoảng 4.900 hộ, tương đương 10.600 người, được tiếp cận nước sạch đạt quy chuẩn. Nhiều công trình cấp nước tại Mỹ Lâm, Sơn Dương, Thái Hòa, Minh Quang, vùng cao núi đá và một số khu vực khác được đầu tư, cải tạo, nâng cấp.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý được đẩy mạnh; phân vùng quản lý, GIS, SCADA và các giải pháp kỹ thuật góp phần giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch từ 24,07% năm 2022 xuống 16,94% năm 2026.


Nhà máy Thủy điện Sông Lô 4 tại xã Tân Quang.

Tăng cường an toàn đập, hồ chứa

An toàn đập, hồ chứa được xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, nhất là trước mùa mưa lũ. Công tác kiểm tra, đánh giá hiện trạng, kiểm định, bảo trì, rà soát quy trình vận hành, phương án bảo vệ công trình và ứng phó thiên tai, tình huống khẩn cấp được tăng cường.

Đến cuối năm 2025, có 48 công trình có hạng mục hư hỏng, xuống cấp; 17 công trình đã được bố trí vốn tu sửa, nâng cấp với tổng kinh phí khoảng 135,65 tỷ đồng; 31 công trình chưa được bố trí vốn, nhu cầu khoảng 114,85 tỷ đồng. Sau sắp xếp, tỉnh tiếp tục phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình, góp phần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền cơ sở và đơn vị trực tiếp quản lý.

Đối với 54 công trình thủy điện đang vận hành, tổng công suất lắp máy 1.334,4 MW, giai đoạn 2022-2026 đã tổ chức 7 cuộc thanh tra, kiểm tra an toàn đập, hồ chứa. Các công trình cơ bản thực hiện đúng quy trình vận hành, duy trì trực 24/24 giờ trong mùa mưa lũ, theo dõi thời tiết, thủy văn; hệ thống cảnh báo hạ du, thông tin xả lũ và giám sát từ xa từng bước được tăng cường.

Quản lý nguồn nước gắn với bảo vệ rừng, môi trường và chuyển đổi số

Bảo vệ nguồn sinh thủy được chú trọng thông qua quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, lưu vực sông, suối và khu vực hồ chứa. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì 62,2%; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục tạo nguồn lực để người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước.

Công tác điều tra, kiểm kê tài nguyên nước được đẩy mạnh. Kết quả xác định 2.356 nguồn nước mặt nội tỉnh, gồm 1.560 sông, suối và 796 hồ, ao, đầm; tổng lượng dòng chảy sông, suối nội tỉnh 13.848,5 triệu m³/năm; kiểm kê 577 công trình khai thác, sử dụng nước mặt, 235 điểm xả nước thải và đánh giá chất lượng nước tại 84 vị trí với 165 mẫu. Đây là cơ sở quan trọng cho quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên nước.

Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số từng bước được đưa vào quản trị nguồn nước, như ứng dụng IoT trong giám sát chất lượng nước nuôi trồng thủy sản; sử dụng phần mềm, camera, quan trắc và truyền dữ liệu trực tuyến trong quản lý công trình; nghiên cứu giải pháp bảo vệ nguồn nước tại các hồ treo vùng cao.

Chủ động trước những thách thức mới

Bên cạnh kết quả đạt được, tỉnh vẫn đối mặt với những khó khăn như nhiều công trình thủy lợi, cấp nước được đầu tư từ lâu đã xuống cấp; nguồn lực sửa chữa, nâng cấp còn hạn chế; nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số vùng cao, vùng xa; hệ thống dữ liệu, quan trắc, giám sát và chia sẻ thông tin giữa các lĩnh vực chưa đồng bộ.

Thiên tai tiếp tục tác động trực tiếp đến hạ tầng ngành nước. Trong 8 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 14 đợt thiên tai, thiệt hại ước khoảng 750 tỷ đồng; riêng hạ tầng thủy lợi, nước sạch có 22 công trình thủy lợi, 6 công trình nước sạch, 160 m kè, 1 cống và 6.115 m kênh mương bị hư hỏng.

Giai đoạn 2026-2030, Tuyên Quang xác định tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; chuẩn hóa, đồng bộ dữ liệu; quản lý nguồn nước theo lưu vực và kịch bản; ưu tiên sửa chữa, nâng cấp công trình xuống cấp; phát triển cấp nước an toàn cho vùng cao, vùng khan hiếm nước; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động các nguồn lực xã hội.

Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh phấn đấu cân đối đủ nước phục vụ sinh hoạt và các ngành kinh tế quan trọng; 100% hộ gia đình ở thành thị và 56,9% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn; hoàn thành sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa hư hỏng, xuống cấp, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá, giám sát an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa.

Từ những kết quả đạt được, Tuyên Quang đang từng bước hình thành phương thức quản trị nguồn nước chủ động, tổng hợp và dựa trên dữ liệu. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong những năm tới./.

Ngọc Dũng

Tin cùng chuyên mục