Quốc hội thảo luận cho ý kiến một số dự án luật lĩnh vực công thương, văn hóa thể thao và du lịch

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, chiều ngày 20-10, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Công thương trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thể dục thể thao, Luật Du lịch, Luật Thư viện, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí. Quốc hội thảo luận tại tổ vào các dự án luật trên.

Đồng chí Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh tham gia chủ trì phiên thảo luận tổ.

Thảo luận vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Thư viện, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí, đại biểu Lý Thị Lan cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch và thẩm tra của Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội. Từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, hệ thống di tích, di sản văn hóa phong phú, đại biểu có nhiều góp ý quan trọng để hoàn thiện dự án luật.

Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận.

Về phân cấp công nhận và trách nhiệm quản lý khu, điểm du lịch, đại biểu tán thành việc phân cấp thẩm quyền công nhận điểm du lịch cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đồng thời quy định rõ việc lập hồ sơ công nhận khu du lịch nằm trên địa bàn từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên. Đối với khu du lịch liên xã, nếu chưa xác định rõ đầu mối chủ trì và trách nhiệm phối hợp thì việc kiểm tra, xử lý các vấn đề phát sinh rất dễ bị phân tán. Đại biểu đề nghị làm rõ trong quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc phân công cơ quan, đơn vị đầu mối quản lý khu du lịch liên xã; trách nhiệm của UBND từng xã trong quản lý hoạt động du lịch, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm an toàn và kiểm tra việc duy trì các điều kiện công nhận. Về quản lý, bảo đảm an toàn đối với sản phẩm du lịch có nguy cơ cao và các điểm tham quan tự phát. Hiện nay, các hoạt động du lịch trải nghiệm, khám phá vùng cao, vận chuyển khách bằng mô tô, xe máy trên những tuyến đường đèo dốc, du lịch đường thủy và tham quan các điểm ngắm cảnh tự phát đang phát triển nhanh. Các loại hình này có tiềm năng thu hút du khách, tạo sinh kế cho người dân, nhưng đồng thời tiềm ẩn những rủi ro về an toàn, nhất là trong điều kiện địa hình miền núi, khả năng cứu hộ, cứu nạn còn hạn chế. Đại biểu đề nghị rà soát, hoàn thiện quy định theo hướng phân loại sản phẩm du lịch theo mức độ rủi ro, quy định điều kiện tương ứng về nhân sự, trang thiết bị, phương án bảo đảm an toàn và trách nhiệm cứu hộ, cứu nạn. Đối với các điểm tham quan tự phát, cần nghiên cứu cơ chế quản lý, kiểm tra, xử lý nguy cơ mất an toàn; xác định rõ trách nhiệm của chủ thể tổ chức hoạt động và chính quyền địa phương. Về cơ chế bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích chưa có quy hoạch theo Luật Di sản văn hóa. Tỉnh Tuyên Quang, toàn tỉnh hiện có 794 di tích trong danh mục quản lý, kiểm kê. Trong thực tiễn, việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cần nhiều thời gian. Do đó cần tiếp tục hoàn thiện điểm b khoản 1 Điều 35 theo hướng làm rõ tiêu chí xác định tình trạng xuống cấp; thẩm quyền, trách nhiệm và thời hạn xác nhận của cơ quan chuyên môn; phạm vi các hạng mục được lập dự án khi chưa có quy hoạch, quy định rõ trách nhiệm thẩm định, giám sát để kịp thời xử lý những di tích xuống cấp mà vẫn bảo đảm yêu cầu bảo tồn. Về thủ tục điều chỉnh ranh giới khu vực bảo vệ di tích khi triển khai các công trình công cộng thiết yếu. Đại biểu dẫn chứng tại một xã của tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình triển khai xây dựng trường nội trú liên cấp, địa phương gặp khó khăn về mặt bằng do ranh giới khoanh vùng bảo vệ Danh lam thắng cảnh quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì có phần chồng lấn với khu vực quy hoạch công trình trường học và một số diện tích đất đã được sử dụng ổn định. Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện khoản 11 Điều 27 Luật Di sản văn hóa theo hướng làm rõ nguyên tắc về trình tự, thời hạn và trách nhiệm giải quyết thủ tục điều chỉnh ranh giới khu vực bảo vệ di tích; giao Chính phủ quy định cơ chế giải quyết ưu tiên đối với các công trình công cộng thiết yếu, cấp bách, nhất là trường học, cơ sở y tế ở vùng biên giới, miền núi.

Đồng chí Ma Thị Thúy, Ủy viên chuyên trách Hội đồng dân tộc của Quốc hội phát biểu thảo luận.

Tham gia vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, đại biểu Ma Thị Thúy, Ủy viên chuyên trách Hội đồng dân tộc của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi luật nhằm tháo gỡ vướng mắc, huy động nguồn lực đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng, đại biểu cho rằng các chính sách cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện, bảo đảm người dân vùng khó khăn được sử dụng điện an toàn, ổn định và phù hợp với khả năng chi trả.

Đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi, lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện, nguồn bù đắp khi giá chưa điều chỉnh và đối tượng được hỗ trợ. Trong đó, cần ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng chính sách và hộ đủ điều kiện tại địa bàn đặc biệt khó khăn; quy định cụ thể tiêu chí hưởng, nguồn kinh phí và trách nhiệm chi trả. Đại biểu nhấn mạnh, lộ trình xóa bỏ bù chéo phải gắn với việc triển khai đồng thời cơ chế hỗ trợ trực tiếp. Mức hỗ trợ cần được xem xét khi giá điện biến động để bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thiết yếu; đồng thời phân biệt hỗ trợ tiền điện cho hộ dân với hỗ trợ chi phí cung ứng điện tại địa bàn khó khăn.

Liên quan rút gọn thủ tục đầu tư, đại biểu cho rằng phải đi cùng trách nhiệm bảo vệ đất, rừng, môi trường và sinh kế. Đại biểu đề nghị xác định cụ thể phạm vi ưu tiên áp dụng Luật Điện lực, làm rõ khâu kiểm soát và cơ quan chịu trách nhiệm khi sử dụng văn bản chấp thuận nhà đầu tư thay thế văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư. Với dự án cấp bách, cần quy định rõ tiêu chí xác định và giới hạn quyền tự quyết của chủ đầu tư. Đối với dự án ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu đề nghị đánh giá tác động đến đất sản xuất, nguồn nước, rừng gắn với sinh kế và không gian văn hóa. Việc công khai thông tin, tham vấn phải phù hợp với điều kiện tiếp nhận của người dân; phương án bồi thường, tái định cư và phục hồi sinh kế phải xác định rõ nguồn lực, trách nhiệm, tiến độ.

Về cấp điện vùng khó khăn, đại biểu đề nghị cụ thể hóa theo hướng hỗ trợ đường dây, thiết bị bảo vệ cần thiết sau công tơ cho hộ đủ điều kiện, kèm hướng dẫn sử dụng điện an toàn. Khu tái định cư cần được đầu tư đồng bộ nguồn, lưới điện và đấu nối đến hộ dân. Theo đại biểu, kết quả thực hiện phải được đánh giá bằng số hộ thực sự sử dụng điện an toàn, ổn định và khả năng phục vụ sinh hoạt, sản xuất. Đại biểu tán thành bổ sung cơ chế lưu trữ điện và thị trường Chứng chỉ năng lượng tái tạo; đồng thời đề nghị có chính sách hỗ trợ điện phân tán, lưới điện nhỏ kết hợp lưu trữ tại khu dân cư khó tiếp cận lưới điện quốc gia. Việc lựa chọn cần so sánh chi phí cả vòng đời với phương án kéo lưới, tính đến độ tin cậy, khả năng bảo trì; xác định rõ đơn vị vận hành, kinh phí bảo dưỡng, thay thế thiết bị và trách nhiệm xử lý pin thải.

Về thị trường điện, đại biểu lưu ý cần làm rõ trách nhiệm thanh toán chi phí lưới điện, điều độ, dự phòng và dịch vụ hệ thống. Việc phân bổ phải công khai, dựa trên mức độ sử dụng và chi phí hợp lý phát sinh, tránh chuyển chi phí bất hợp lý sang khách hàng còn lại, trong đó có hộ dân miền núi và cơ sở sản xuất nhỏ. Đại biểu cũng đề nghị nguyên tắc thu hồi vốn, lợi nhuận và cơ chế giá hỗ trợ phải gắn với chi phí hợp lý, hợp lệ, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm của từng bên, tránh để ngân sách hoặc người dân gánh toàn bộ rủi ro đầu tư, kinh doanh.

Về an toàn thủy điện, đại biểu đề nghị xác định một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp bắt buộc đối với hồ, đập liên quan từ hai tỉnh trở lên, bao gồm địa phương hạ du chịu ảnh hưởng. Cảnh báo xả nước phải đến từng khu dân cư có nguy cơ, phù hợp với ngôn ngữ và điều kiện tiếp nhận của đồng bào. Đại biểu nhấn mạnh, phương án ứng phó cần có cách truyền tin dự phòng khi mất điện, mất sóng, xác định nơi sơ tán và trách nhiệm hỗ trợ người dễ bị tổn thương. Việc phân cấp phải đi cùng nhân lực, dữ liệu quan trắc và kinh phí, đồng thời làm rõ trách nhiệm bồi thường khi vi phạm gây thiệt hại.

Đồng chí Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ phát biểu thảo luận.

Tham gia thảo luận, đại biểu Vương Thị Hương tán thành sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời đưa ra nhiều góp ý quan trọng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật. Đối với khoản 7, khoản 8 và khoản 9 Điều 1 dự thảo, sửa đổi các Điều 256, 260 và 267 của Luật Thương mại về hoạt động giám định, đại biểu đề nghị việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định phải đi đôi với việc xác lập các nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực và trách nhiệm của thương nhân đối với kết quả, chứng thư giám định. Đại biểu cũng đề nghị bổ sung cơ chế xác thực công khai đối với chứng thư giám định để xác định được thương nhân phát hành, người ký và tình trạng hiệu lực của chứng thư. Đối với hoạt động ủy quyền giám định, cần chỉnh lý cụm từ “chưa được phép hoạt động tại Việt Nam”, đồng thời quy định rõ phạm vi ủy quyền, chủ thể ký chứng thư và trách nhiệm của thương nhân nước ngoài, thương nhân Việt Nam nhận ủy quyền. Đối với khoản 4 Điều 2 dự thảo, sửa đổi Điều 10 Luật Cạnh tranh về xác định thị phần trên nền tảng số, đại biểu cho rằng việc bổ sung tiêu chí số lượng và giá trị giao dịch là cần thiết, song dữ liệu sử dụng phải phản ánh đúng thực chất thị trường. Theo đó, đại biểu đề nghị Luật quy định rõ dữ liệu xác định thị phần phải được kiểm chứng, phản ánh giao dịch hoàn tất và quan hệ cung – cầu độc lập; không tính giao dịch giả tạo, giao dịch tự tạo, giao dịch bị hủy hoặc hoàn trả, giao dịch trùng lặp và giao dịch nội bộ. Chính phủ quy định chi tiết nguồn dữ liệu, phương thức đối soát và tiêu chí xác định giao dịch hợp lệ.

Đối với khoản 10 Điều 3 dự thảo, sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Quản lý ngoại thương về điều kiện kinh doanh tạm nhập – tái xuất, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát để phân định rõ hoạt động nào không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; loại giấy phép, mã số nào phải bãi bỏ; và biện pháp quản lý ngoại thương nào vẫn cần duy trì. Đại biểu cho rằng không nên chỉ dẫn chiếu chung “theo quy định của pháp luật”, vì có thể gây lúng túng trong phân biệt giữa điều kiện kinh doanh của thương nhân với biện pháp quản lý đối với hàng hóa có rủi ro. Đại biểu đề nghị làm rõ nội dung này ngay trong Luật và rà soát quy định chuyển tiếp để không gia hạn hoặc cấp lại giấy phép, mã số gắn với điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ./.

Đỗ Dũng

Tin cùng chuyên mục