Tại phiên họp toàn thể ở Hội trường, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình về 03 dự án: Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); Luật Luật sư (sửa đổi); Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội trình bày báo cáo thẩm tra về 02 dự án: Luật Luật sư (sửa đổi); Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
.jpg)
Toàn thể phiên thảo luận của Tổ thảo luận số 14.
Tại phiên họp Tổ thảo luận số 14, các đại biểu Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang đã tham gia thảo luận. Trước hết, đại biểu Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Tuyên Quang tham gia thảo luận về dự thảo Bộ luật Hình sự. Đại biểu ghi nhận sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Công an và các cơ quan tham gia xây dựng dự án Luật. Nhiều nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý kịp thời trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra và các đại biểu Quốc hội.

Đại biểu Lý Thị Lan, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Tuyên Quang phát biểu thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi.
Tham gia một số nội dung cụ thể, đại biểu đề nghị về hành vi phạm tội và căn cứ định khung hình phạt trong hoạt động đấu thầu (Điều 207) cần tiếp tục rà soát các hành vi bổ sung tại khoản 1 và giữ nguyên căn cứ thiệt hại từ 2 tỷ đồng trở lên để xác định khung hình phạt vì giá trị gói thầu chỉ phản ánh quy mô dự án, trong khi thiệt hại mới phản ánh đúng hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Việc lấy giá trị gói thầu làm căn cứ độc lập để tăng nặng hình phạt có thể dẫn đến sự thiếu tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi với trách nhiệm hình sự.
Liên quan đến xử lý hành vi liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ (Điều 295 và Điều 296) cần làm rõ phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội liên quan đến vũ khí quân dụng, đặc biệt là đối với các loại dao có tính sát thương cao được phân loại theo mục đích sử dụng. Đề nghị cụ thể hóa tiêu chí xác định vật phạm pháp có số lượng "lớn, rất lớn, đặc biệt lớn" tại Điều 295; nghiên cứu căn cứ định lượng tối thiểu đối với vật liệu nổ tại Điều 296 gắn với chủng loại, tính năng, mức độ nguy hiểm và tính chất hành vi để phân định rõ giữa xử lý hành chính và xử lý hình sự.
Về chế định giám sát điện tử trong thi hành án hình sự (Điều 415), đại biểu Lý Thị Lan cho rằng, đây là chính sách mới tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ công dân và trách nhiệm của cơ quan thi hành án. Do đó, cần đánh giá kỹ điều kiện thực hiện về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực, kinh phí và năng lực của Công an cấp xã (nhất là ở các địa bàn miền núi, vùng khó khăn về hạ tầng số).
Đại biểu Ma Thị Thúy, Uỷ viên chuyên trách tại Hội đồng dân tộc của Quốc hội nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Đấu giá tài sản nhằm khắc phục tình trạng thông đồng, dìm giá, trả giá cao rồi bỏ cọc và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản. Đại biểu Ma Thị Thúy góp ý dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ cơ chế xác định người trúng đấu giá, mức tiền đặt trước, trách nhiệm vận hành đấu giá trực tuyến và bảo vệ người mua ngay tình. Nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Đấu giá tài sản nhằm khắc phục tình trạng thông đồng, dìm giá, trả giá cao rồi bỏ cọc, đại biểu tập trung góp ý 5 nội dung cần tiếp tục hoàn thiện.

Đại biểu Ma Thị Thúy, Uỷ viên chuyên trách tại Hội đồng dân tộc của Quốc hội phát biểu tại Tổ thảo luận số 14.
Đối với quy định bốc thăm xác định người trúng đấu giá tại khoản 7 Điều 28, đại biểu cho rằng việc tham dự phiên đấu giá chưa thể đồng nhất với hành vi trả giá. Người trúng đấu giá cần được xác định trên cơ sở có giá trả hợp lệ. Vì vậy, trường hợp không có giá trả hợp lệ nên xác định đấu giá không thành, trừ trường hợp đặc thù được luật quy định rõ; đồng thời thống nhất cách xử lý tiền đặt trước.
Về Điều 29, dự thảo bổ sung mức tiền đặt trước từ 20% đến 50% đối với đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho cá nhân. Đại biểu đồng tình với việc tăng trách nhiệm của người tham gia, song đề nghị đánh giá kỹ tác động vì mức tối đa 50% có thể hạn chế cơ hội của người có nhu cầu nhà ở thực sự. Cần có tiêu chí lựa chọn mức cụ thể, làm rõ thời hạn hoàn trả và trách nhiệm xử lý khi kết quả đấu giá không được phê duyệt do lỗi của cơ quan hoặc người có tài sản.
Đối với đấu giá trực tuyến tại khoản 5 Điều 30, gắn với Điều 25, đại biểu đề nghị làm rõ căn cứ lựa chọn ngưỡng tổng giá khởi điểm từ 200 triệu đồng để bắt buộc áp dụng đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân. Luật cần quy định nguyên tắc xử lý khi mất kết nối, lỗi ghi nhận giá, sự cố thanh toán và xác định rõ trách nhiệm của đơn vị vận hành, tổ chức đấu giá. Việc công khai thông tin cần có hình thức phù hợp tại địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Về chế tài tại khoản 3 Điều 56, đại biểu tán thành xử lý nghiêm người cố ý bỏ cọc, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, căn cứ, phạm vi và tiêu chí xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá phải được quy định rõ; phân biệt hành vi cố ý vi phạm với trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi của cơ quan, người có tài sản, bảo đảm quyền giải trình, khiếu nại và khởi kiện.
Đại biểu cũng đề nghị hoàn thiện Điều 7, Điều 58 và Điều 59 để bảo vệ người mua ngay tình khi kết quả đấu giá bị hủy. Cần xác định rõ trường hợp phải hoàn trả tài sản, chủ thể có trách nhiệm hoàn trả tiền, thời hạn hoàn trả và cách giải quyết chi phí hợp lý, thiệt hại phát sinh. Đây là cơ sở bảo vệ quyền lợi người mua, xác định trách nhiệm của bên có lỗi và củng cố niềm tin vào hoạt động đấu giá.

Đại biểu Lý Văn Huấn phát biểu thảo luận tại Tổ thảo luận số 14.
Đại biểu Lý Văn Huấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang thảo luận về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cụ thể: Về tiêu chuẩn đối với luật sư (Điểm a Khoản 1 Điều 7), hiện nay dự thảo đang thể hiện "người có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức tốt, kiên quyết bảo vệ công lý, chính trực và trung thực". Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định chi tiết, cụ thể hơn hoặc giao cho Chính phủ quy định chi tiết nội dung tiêu chuẩn đối với luật sư, nhằm bảo đảm xác định chính xác tiêu chuẩn của luật sư, tránh tình trạng áp dụng một cách tùy tiện, không thống nhất giữa các địa phương trên phạm vi toàn quốc.
Về hoạt động của người tập sự hành nghề luật sư (Điều 10), dự thảo hiện nay quy định người tập sự hành nghề luật sư được thực hiện một số hoạt động theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định chặt chẽ vì chỉ có chức danh Luật sư mới được tham gia tố tụng, không quy định cho người tập sự hành nghề luật sư tham gia tố tụng, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Luật sư và các quy định của pháp luật tố tụng
Về quyền và nghĩa vụ của luật sư trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (Điểm e Khoản 2 Điều 12) đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, nghiên cứu bổ sung cụ thể các quy định này và giao Chính phủ quy định chi tiết về số lượng, đối tượng, phạm vi áp dụng, các trường hợp cụ thể cũng như nghĩa vụ cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí mà luật sư phải thực hiện hằng năm. Việc quy định chi tiết này sẽ giúp Đoàn Luật sư dễ dàng triển khai, bảo đảm sự đồng bộ và tính khả thi trên thực tế.
Về chuyển đổi số và hạ tầng dữ liệu luật sư (Khoản 2, Khoản 6, Khoản 7 Điều 30) quy định một số nội dung như xây dựng cơ sở dữ liệu luật sư, cho phép ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý và thực hiện giao dịch qua phương tiện điện tử, đồng thời ghi nhận giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng thực tế cần phải có lộ trình phù hợp do hạ tầng công nghệ hiện nay, nhất là một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn lực về con người tại một số địa bàn tỉnh miền núi, đội ngũ cán bộ tham gia luật sư chủ yếu đã nghỉ chế độ hưu trí nên việc ứng dụng công nghệ thông tin gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
Phát biểu về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), đại biểu Lý Văn Huấn cho rằng việc bổ sung chính sách giảm mức hình phạt đối với người phạm tội chấp nhận hình phạt đề nghị tại Điều 57 Bộ luật Hình sự và các quy định tương ứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự là rất cần thiết, có cơ sở và mang ý nghĩa tiến bộ sâu sắc trong chính sách hình sự. Đây là bước chuyển trong tư duy pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và khoan hồng, giữa yêu cầu xử lý tội phạm với việc khuyến khích người phạm tội chủ động chịu trách nhiệm và khắc phục hậu quả. Đề nghị cơ quan soạn thảo cũng như các cơ quan Trung ương cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương có căn cứ áp dụng thống nhất, tránh trường hợp áp dụng tùy tiện trong quá trình thi hành pháp luật.
Phát biểu thảo luận về dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), đại biểu Hoàng Ngọc Định, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Tuyên Quang thảo luận về một số nội dung như: Về thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi (Khoản 1 Điều 16) quy định UBND cấp xã quyết định nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới; trong khi khoản 2 Điều 16 quy định UBND cấp tỉnh quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (không loại trừ khu vực biên giới). Quy định này dẫn đến hai cách hiểu khác nhau và gây lúng túng khi tổ chức thực hiện. Đề nghị sửa khoản 1 và khoản 2 Điều 16 theo hướng: UBND cấp xã quyết định việc nuôi con nuôi trong nước; UBND cấp tỉnh quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đối với địa bàn biên giới, Luật hoặc văn bản quy định chi tiết chỉ xác định cơ chế tiếp nhận hồ sơ, xác minh, phối hợp và hỗ trợ thực hiện tại cấp xã, không thiết kế thẩm quyền quyết định riêng chồng lấn với cấp tỉnh.

Đại biểu Hoàng Ngọc Định phát biểu thảo luận về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
Về lệ phí và khoản đóng góp (khoản 3, Điều 12) quy định người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài nhận trẻ em tại cơ sở trợ giúp xã hội làm con nuôi phải nộp một khoản tiền bù đắp chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và thù lao cho nhân viên. Đề nghị bổ sung trực tiếp trong Luật các nguyên tắc cơ bản: bản chất pháp lý, mục đích, phạm vi chi, chủ thể thu/nộp, nguyên tắc xác định mức thu; yêu cầu công khai, minh bạch, hạch toán riêng, kiểm tra, giám sát. Cần quy định rõ nội dung “không được thu trực tiếp hoặc chi trực tiếp cho cá nhân” gắn với từng trường hợp giải quyết nuôi con nuôi; bảo đảm khoản tiền chỉ phục vụ lợi ích của trẻ em, không trở thành điều kiện giải quyết nuôi con nuôi. Giao Chính phủ quy định chi tiết về mức thu, phương thức thu, chứng từ, quản lý và sử dụng khoản tiền này.
Về hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi (Điều 23) và sự thống nhất với các điều khoản liên quan. Đề nghị phân nhóm rõ các căn cứ tại Khoản 1 và 2 Điều 23 (phân biệt nhóm quyết định vi phạm pháp luật từ đầu với nhóm quyết định hợp pháp nhưng phát sinh sự kiện sau đó); xác định rõ thời điểm mất hiệu lực và quyền/nghĩa vụ được khôi phục/chấm dứt tương ứng. Bổ sung tại Điều 23 nguyên tắc xử lý hậu quả khi quyết định bị hủy bỏ/thu hồi (đảm bảo ngay nơi chăm sóc, người đại diện, điều chỉnh hộ tịch, dữ liệu, xử lý tài sản của trẻ và khoản đóng góp phát sinh). Bổ sung tại Điều 26: Trước khi hoàn thành giao nhận, cha/mẹ đẻ, người giám hộ hoặc chủ thể đang chăm sóc hợp pháp tiếp tục thực hiện trách nhiệm đối với trẻ; người nhận con nuôi chưa thực hiện quyền đại diện (trừ trường hợp Luật có quy định khác).
Về đăng ký lại việc nuôi con nuôi (Điều 18): Đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát kỹ mối quan hệ giữa Điều 18 dự thảo với khoản 4 Điều 3 và khoản 3 Điều 29 Luật Hộ tịch năm 2026; đánh giá đầy đủ cơ sở pháp lý và phương án xử lý để bảo đảm tính áp dụng thống nhất. Về trường hợp người độc thân nhận con nuôi (Điểm b khoản 1 Điều 27) đề nghị Sửa điểm b khoản 1 Điều 27 theo hướng bao quát trường hợp người nhận con nuôi là cá nhân (người độc thân), hoặc cả cha và mẹ nuôi, không còn khả năng thực tế chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Quy định việc chấm dứt do Tòa án xem xét, đánh giá dựa trên hoàn cảnh cụ thể và lợi ích tốt nhất của trẻ, đồng thời quyết định phương án chăm sóc thay thế theo Điều 29.
Bên cạnh việc thảo luận về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), đại biểu Hoàng Ngọc Định còn quan tâm thảo luận về Dự án Bộ Luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu đề nghị khi quy định khái niệm tội phạm và quy định liên quan đến pháp nhân thương mại tại Điều 8 cần cân nhắc giữ nguyên quy định hiện hành về pháp nhân là chủ thể của tội phạm, đồng thời chỉnh lý các quy định có liên quan. Về Tội mua bán người (Điều 132) và Tội mua bán người dưới 18 tuổi (Điều 133) đại biểu đề nghị bỏ tình tiết định khung “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” tại Điều 132 và Điều 133 để đảm bảo khắc phục bất cập hiện nay về chính sách hình sự chưa công bằng, nhất quán đối với người phạm tội. Về Tội làm nhục đồng đội (Điều 397) và Tội hành hung đồng đội (Điều 398) đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 1 các Điều 397, 398 theo hướng bỏ cụm từ "trong quan hệ công tác mà" ra khỏi cấu thành tội phạm của hai tội này vì tránh gây vướng mắc trong thực tiễn và có cách hiểu không thống nhất.

Đại biểu Vương Thị Hương phát biểu thảo luận tại Tổ thảo luận số 14.
Đại biểu Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ, Uỷ viên Hội đồng dân tộc khoá XVI phát biểu thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); cụ thể một số nội dung:
Về bảo mật danh sách và thông tin người đăng ký tham gia đấu giá (Điểm c khoản 4 Điều 10 và Điểm e khoản 2 Điều 39) đề nghị chỉnh lý điểm c khoản 4 Điều 10 theo hướng: Xác định rõ nghĩa vụ bảo mật danh sách và thông tin nhận diện người đăng ký kể từ khi người có tài sản tiếp nhận hoặc được cung cấp thông tin cho đến khi kết thúc cuộc đấu giá. Nghiêm cấm để lộ, tiết lộ hoặc cung cấp trái pháp luật những thông tin này cho người không có quyền tiếp cận, kể cả thông qua trung gian. Sửa đổi điểm e khoản 2 Điều 39 để thống nhất về phạm vi thông tin, thời gian và chế độ bảo mật.
Về trách nhiệm đối với thông tin về tài sản đấu giá (Điều 22) đề nghị chỉnh lý khoản 3 Điều 22 theo hướng tách rõ 2 nội dung: (1) Trách nhiệm về giá trị, chất lượng tài sản được xác định theo pháp luật và thỏa thuận hợp đồng; (2) Trách nhiệm của tổ chức hành nghề đấu giá đối với việc kiểm tra, công bố, cung cấp thông tin được xác định theo các nghĩa vụ cụ thể của mình. Bổ sung nguyên tắc: Việc không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng tài sản không loại trừ trách nhiệm của tổ chức đấu giá khi vi phạm nghĩa vụ thông tin. Hợp đồng dịch vụ đấu giá không được loại trừ hoặc thu hẹp các nghĩa vụ thông tin bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm xác nhận niêm yết của Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 24) đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 24 theo hướng: Xác định rõ UBND cấp xã xác nhận việc thực hiện niêm yết (thời điểm, địa điểm) và việc duy trì niêm yết trong phạm vi trách nhiệm của mình; không xác nhận tính hợp pháp của tài sản, giá trị khởi điểm hay việc đưa tài sản ra đấu giá. Ghi nhận rõ việc lập, ký, gửi, nhận và xác nhận bằng phương thức điện tử đáp ứng yêu cầu pháp luật, tránh bắt tổ chức đấu giá phải ghi nhận ra bản giấy khi đã có kết quả điện tử. Sửa khoản 5 Điều 24 giao Chính phủ quy định thống nhất nội dung, cách thức, thời điểm, thời hạn xác nhận, phương thức chuyển kết quả và lưu trữ chứng cứ.
Về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá trực tuyến (Điều 28) đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 28 theo hướng quy định người tham gia đấu giá bằng hình thức trực tuyến được đăng ký, nộp hồ sơ và nhận thông báo trên hệ thống hồ sơ điện tử với các yêu cầu pháp luật, được sử dụng trong toàn bộ quá trình chuyển giao, xét duyệt và không phải nộp thêm bản giấy. Việc công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử cần gắn với pháp luật về giao dịch điện tử. Trường hợp pháp luật yêu cầu bản gốc, công chứng, chứng thực thì tài liệu điện tử phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu đó. Chỉnh lý khoản 2 Điều 28 để làm rõ cơ chế tiếp nhận, bảo mật và chuyển hồ sơ điện tử cho người có tài sản xét duyệt (xác định thời điểm, trách nhiệm chuyển giao quyền truy cập, lưu vết xử lý). Nguyên tắc sử dụng hồ sơ điện tử thay thế hồ sơ giấy phải quy định rõ trong Luật, còn các chi tiết kỹ thuật giao Chính phủ quy định.
Về xử lý tiền đặt trước trong trường hợp không thể tham dự do sự cố hệ thống (Điều 39) đề nghị bổ sung ngoại lệ tại điểm a khoản 8 Điều 39: Không áp dụng quy định không hoàn trả tiền đặt trước đối với trường hợp không tham dự nếu có căn cứ xác định người đăng ký không thể tham dự do sự cố của hệ thống đấu giá trực tuyến hoặc trang thông tin đấu giá trực tuyến không phải do lỗi của người đó. Áp dụng ngoại lệ này phải có căn cứ xác minh sự cố và mối quan hệ nguyên nhân - kết quả (không chấp nhận việc người tham gia tự khai mất kết nối, không giao bên tự quyết định kết luận sự cố nếu không có dữ liệu chứng minh). Bổ sung tại khoản 7 Điều 30 trách nhiệm lưu trữ dữ liệu xác minh, thông báo và cơ chế tạm dừng hoặc tổ chức lại phiên đấu giá.






