Tham gia thảo luận vào Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật Thỏa thuận quốc tế và các nội dung của dự thảo Luật. Đại biểu đánh giá cao sự chuẩn bị của Chính phủ, Bộ Ngoại giao, cơ quan chủ trì soạn thảo và tinh thần tiếp thu, giải trình các ý kiến trong quá trình xây dựng dự án Luật. Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Lý Thị Lan tham gia một số nội dung cụ thể:

Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận.
Thứ nhất, về thẩm quyền ký kết thỏa thuận quốc tế sau khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đặc biệt đối với các địa phương biên giới. Đại biểu tán thành việc dự thảo Luật mở rộng chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế. Đại biểu dẫn chứng thực tế tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2021 đến nay, các cơ quan, đơn vị của tỉnh đã ký kết 129 thỏa thuận quốc tế, trong đó có 34 thỏa thuận cấp tỉnh và 95 thỏa thuận thuộc nhóm sở, ngành và một số chính quyền cấp huyện, cấp xã biên giới. Các hoạt động hợp tác với địa phương phía Trung Quốc được triển khai trên nhiều lĩnh vực, nhất là quản lý biên giới, giao lưu hữu nghị và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc xác định chủ thể có thẩm quyền ký kết và triển khai hợp tác với các cơ quan chính quyền nước ngoài ở cấp hành chính mà phía Việt Nam không còn tổ chức tương ứng. Đại biểu cho rằng dự thảo đã quy định UBND cấp tỉnh kế thừa hoặc phân công cơ quan kế thừa, tổ chức thực hiện các thỏa thuận quốc tế trước đây do UBND cấp huyện ký kết. Đại biểu Lý Thị Lan đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ nguyên tắc xác định chủ thể có thẩm quyền ký kết trong trường hợp không có cấp chính quyền tương ứng với phía nước ngoài; đồng thời có quy định giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể đối với những hoạt động hợp tác biên giới có tính chất đặc thù, bảo đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan.
Thứ hai, về phân định thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã trong ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế. Đại biểu đồng tình với yêu cầu bảo đảm sự quản lý thống nhất của cấp tỉnh đối với hoạt động đối ngoại. Tuy nhiên, khi dự thảo đã xác định UBND cấp xã là một chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế thì cần quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của cấp xã trong quá trình đề xuất, ký kết và tổ chức thực hiện. Do đó, đề nghị nghiên cứu chỉnh lý khoản 4 Điều 2, đồng thời bổ sung Điều 38 và Điều 41 quy định về trách nhiệm của UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã trong tổ chức thực hiện thỏa thuận quốc tế; bảo đảm sự thống nhất với các nguyên tắc phân định thẩm quyền và trách nhiệm theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Thứ ba, về nâng cao chất lượng ký kết và hiệu quả thực hiện thỏa thuận quốc tế. Từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, đại biểu nhấn mạnh, những thỏa thuận có nội dung hợp tác quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, việc xem xét trước khi ký kết cần làm rõ được mục tiêu hợp tác, điều kiện thực hiện, trách nhiệm phối hợp và các yêu cầu của pháp luật chuyên ngành. Do đó cần nghiên cứu bổ sung nội dung cơ bản của đề xuất ký kết thỏa thuận quốc tế, trong đó làm rõ mục tiêu, lợi ích cụ thể; tính khả thi; điều kiện, nguồn lực thực hiện; trách nhiệm của cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp. Đồng thời, cần làm rõ hơn trách nhiệm theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện sau ký kết.

Đồng chí Hoàng Ngọc Định, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh phát biểu thảo luận.
Phát biểu thảo luận, đại biểu Hoàng Ngọc Định, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Tuyên Quang cơ bản tán thành với dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi). Về tố tụng điện tử, đại biểu tán thành việc xác định hoạt động tố tụng điện tử là một nguyên tắc của Bộ luật. Việc bổ sung nguyên tắc này nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 57 của Trung ương về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, nâng cao tính công khai, minh bạch, hiệu quả kiểm tra và giám sát. Về thủ tục tố tụng đối với pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự, đại biểu nhất trí tiếp tục xác định pháp nhân thương mại khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo. Về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, đề nghị bổ sung các đối tượng và khách thể của tội phạm được pháp luật bảo vệ thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử là vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân, pháp nhân thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng. Việc bổ sung nhằm quy định đầy đủ các đối tượng quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu, dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng, công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tuyên Quang phát biểu thảo luận.
Tham gia thảo luận vào Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm cơ chế thu hồi và xử tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội, đại biểu Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tuyên Quang cơ bản thống nhất với sự cần thiết nghiên cứu, xây dựng cơ chế thí điểm thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội. Đại biểu cho rằng, đây là cơ chế có thể góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản cho Nhà nước, khơi thông các nguồn lực đang tắc nghẽn để đưa vào tái sử dụng phục vụ cho xã hội, việc đưa ra thí điểm là cần thiết, thể hiện sự thận trọng trong áp dụng cơ chế chính sách mới. Để hoàn thiện dự thảo, đại biểu đề nghị nghiên cứu xem xét một số nội dung: Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh tại khoản 1 Điều 1 về thẩm quyền yêu cầu toà án giải quyết vụ việc dân sự. Theo đại biểu Khoản 1 Điều 1 quy định cơ chế thu hồi, xử lý tài sản không qua kết tội được thực hiện thông qua thủ tục của Viện kiểm sát; trong khi Điều 13 cũng giao cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự (bao gồm cả cơ quan điều tra, truy tố, xét xử) có quyền đề nghị khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy là chưa thống nhất giữa 2 điều về thẩm quyền yêu cầu toà án giải quyết vụ việc, có thể dẫn đến cách hiểu rằng cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong vụ án hình sự đều có quyền yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự thu hồi tài sản. Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong các điều khoản của nghị quyết và chồng chéo, không rõ trách nhiệm chính về thẩm quyền của các cơ quan tố tụng. Thứ hai, về Nguyên tắc thực hiện, đại biểu đề nghị rà soát làm rõ, phân biệt giữa khái niệm người thứ ba và người thứ 3 ngay tình vì trường hợp người thứ ba tại khoản 4 trong trường hợp không biết và không thể biết tài sản mình mua bán, trao đổi là tài sản thuộc đối tượng cần thu hồi thì họ cũng trở thành người thứ 3 ngay tình, đồng thời làm rõ nội dung người tham gia giao dịch phải biết là tài sản có liên quan đến tội phạm hoặc nhằm che giấu, tẩu tán tài sản tránh thực hiện tuỳ nghi trên thực tế, đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp của cá nhân, đặc biệt là những người có quan hệ thân nhân với người có hành vị phạm tội có tài sản cần thu hồi. Thứ ba, về các trường hợp áp dụng cơ chế thu hồi tài sản tại khoản 3 Điều 7, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, bổ sung vào khoản này trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hiện hành, như Nghị quyết số: 37/2026/QH16 quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự và xử lý kỷ luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân có quy định các trường hợp người vi phạm được không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện, do vậy đề nghị cần rà soát các quy định hiện hành để bổ sung cho đầy đủ, đảm bảo không bỏ lọt tài sản cần thu hồi không qua xét xử. Thứ tư, về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 11. Đề nghị bổ sung, làm rõ nội dung xác minh tại khoản 1 Điều 11 “quyền sở hữu tài sản”. Theo đại biểu, đây không chỉ là thông tin về chủ thể đứng tên tài sản mà còn là căn cứ để xác định chính xác phạm vi tài sản được xem xét thu hồi. Trên thực tế, một tài sản có thể thuộc sở hữu chung, được hình thành từ nhiều nguồn tiền hoặc gắn với quyền lợi hợp pháp của nhiều chủ thể. Nếu chỉ xác định tài sản có liên quan đến tội phạm mà không làm rõ quyền sở hữu và phần quyền của từng người, việc thu hồi có thể vượt quá phạm vi tài sản thuộc quyền của người có hành vi phạm tội, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đồng sở hữu hoặc người có quyền liên quan. Bổ sung đối tượng Viện kiểm sát nhân dân cần xác minh, làm rõ tại khoản 2: “người phạm tội và người có quyền và nghĩa vụ liên quan”. Bởi lẽ, để xác định một tài sản có thuộc diện thu hồi hay không, không thể chỉ xem xét bản thân tài sản mà còn phải làm rõ mối liên hệ giữa tài sản với hành vi phạm tội, người có liên quan đến việc hình thành, chuyển dịch, quản lý hoặc sử dụng tài sản đó để đảm bảo việc thu hồi đúng, đủ tài sản và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về sở hữu tài sản của người không có liên quan. Thứ năm, về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự tại Điều 13. Đại biểu Nguyễn Việt Hà đề nghị làm rõ cơ quan chủ trì và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan tại khoản 1. Nếu quy định chung như hiện nay, có thể dẫn đến cách hiểu rằng cả cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong vụ án hình sự đều có thẩm quyền yêu cầu giải quyết vụ việc thu hồi tài sản không qua xét xử. Trong khi đó, các cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ và thời điểm tham gia tố tụng khác nhau. Việc không phân định rõ trách nhiệm sẽ dễ dẫn đến chồng chéo, đùn đẩy hoặc phát sinh yêu cầu phối hợp không cần thiết. Đối với khoản 2, đề nghị rà soát để bảo đảm thống nhất với khoản 1 Điều 1 về quy định thẩm quyền yêu cầu toà án giải quyết vụ việc. Thứ sáu, về bổ sung các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ và trách nhiệm cung cấp thông tin với cơ quan tố tụng là Toà án. Hiện dự thảo chỉ quy định các nội dung này với Viện kiểm sát mà chưa có quy định dành cho toà án, trong khi Tòa án là cơ quan trực tiếp giải quyết vụ việc và ra quyết định về việc thu hồi tài sản. Trong quá trình giải quyết, có thể phát sinh nhu cầu yêu cầu cung cấp tài liệu, xác minh tình trạng tài sản, làm rõ quyền sở hữu hoặc thu thập thêm chứng cứ để giải quyết những vấn đề còn tranh chấp. Thứ bảy, về công khai thông tin thụ lý vụ việc tại khoản 4 Điều 15 Dự thảo quy định Viện kiểm sát thông báo việc thụ lý vụ việc cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và đăng tải thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử. việc công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử khi chưa có quyết định thu hồi có hiệu lực có thể tạo ra hậu quả ngoài phạm vi tố tụng, đặc biệt đối với doanh nghiệp đang hoạt động, có nguy cơ ảnh hưởng đến uy tín, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.

Đồng chí Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ phát biểu thảo luận.
Góp ý dự thảo Luật Thỏa thuận quốc tế, đại biểu Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ, cho rằng sửa đổi Luật để đáp ứng được yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và đặc biệt là vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đơn giản hóa thủ tục, cũng như là tăng cường phân cấp, phân quyền, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện các thỏa thuận đã ký kết.
Về sự thống nhất giữa thẩm quyền và trình tự quyết định ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh cơ quan trung ương của tổ chức, theo đó, tại Điều 16 về thẩm quyền ký kết có quy định: người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức quyết định việc ký kết thỏa thuận quốc tế sau khi có văn bản đồng ý của cơ quan quản lý hoạt động đối ngoại của tổ chức. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 17 lại quy định trình tự, thủ tục ký kết là: Cơ quan trung ương của tổ chức nghiên cứu, tiếp thu ý kiến và trình cơ quan quản lý hoạt động đối ngoại quyết định việc ký kết thỏa thuận quốc tế. Sự thiếu rõ ràng này không chỉ ảnh hưởng đến trình tự xử lý hồ sơ mà còn gây khó khăn khi xác định trách nhiệm đối với quyết định cho ký. Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 3 Điều 17 để cụ thể hóa đúng thẩm quyền đã được xác định tại Điều 16.
Về xác định cơ quan đầu mối khi ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh nhiều cơ quan, tổ chức, quy định tại Điều 21 dự thảo Luật. Theo đại biểu việc xác định đầu mối không chỉ là lựa chọn cơ quan đứng tên để gửi hồ sơ, mà còn là phân công trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu ý kiến và theo dõi tiến độ thực hiện thủ tục; nếu mỗi bên tự thực hiện riêng thì lại rất khó đạt mục tiêu giảm trùng lặp. Vì vậy cũng cần phải có cơ chế giải quyết bất đồng về phân công, không để việc lựa chọn đầu mối trở thành trở ngại với một nhu cầu hợp tác mà các bên đã thống nhất. Đối với nhiều đơn vị hành chính cấp xã trong cùng một tỉnh, đại biểu đề nghị bổ sung, chỉnh lý Điều 21 theo hướng: khi các bên đã cùng thống nhất tham gia ký kết và cần thực hiện thủ tục chung nhưng không thống nhất được đầu mối thì cũng phải báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để xem xét phân công. Đối với từ hai đơn vị hành chính cấp xã trong cùng một tỉnh, đề nghị quy định rõ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định một Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia ký kết làm đầu mối.
Về hiệu lực của thỏa thuận quốc tế, quy định tại Điều 27. Đại biểu Vương Thị Hương cho rằng quy định này đang lấy ngày ký làm mốc xác định hiệu lực, hiện vẫn chưa bao quát đầy đủ các hình thức ký kết đã được chính dự thảo Luật thiết kế. Với hình thức trao đổi thư, công hàm, ngày ký từng văn kiện có thể chưa chắc là ngày hoàn tất việc trao đổi thành thỏa thuận. Do đó, vấn đề cần bổ sung thêm nguyên tắc xác định thời điểm có hiệu lực cho từng hình thức ký kết, quy định khoản 2 Điều 27 theo hướng ưu tiên thời điểm có hiệu lực do các bên thống nhất bằng văn bản khi nội dung này chưa được quy định trong thỏa thuận.
Về việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan theo trình tự, thủ tục rút gọn, quy định tại Điều 32, đề nghị bổ sung cơ chế xử lý khi quá thời hạn lấy ý kiến; đồng thời đề nghị chỉnh lý tương ứng khoản 2 Điều 25: cơ quan đề xuất phải xác định là đã gửi đủ hồ sơ đúng cơ quan, ghi nhận thời điểm nộp hồ sơ và đôn đốc, báo cáo rõ cơ quan chưa trả lời, nội dung chưa có ý kiến và ảnh hưởng của việc thiếu ý kiến đối với căn cứ quyết định. Cơ quan chậm trả lời cũng phải giải trình lý do và chịu trách nhiệm về sự chậm trễ thuộc phạm vi của mình.
Về căn cứ không công khai thỏa thuận quốc tế (khoản 2 Điều 44). Đại biểu cho rằng căn cứ theo thỏa thuận với bên phía nước ngoài và theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở đây cũng cần phải được giới hạn rõ về điều kiện áp dụng. Đại biểu đề nghị khoản 2 Điều 44 quy định theo hướng giữ nguyên tắc công khai, đồng thời làm rõ việc không công khai theo thỏa thuận với bên nước ngoài hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật liên quan.






