Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang tham gia thảo luận nhiều dự án luật tại ngày làm việc thứ ba, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Sáng 05/8/2026, tiếp tục ngày làm việc thứ ba của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, nghe trình bày Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về 07 dự án luật: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.

Sau phiên họp toàn thể, Quốc hội thảo luận tại Tổ về 03 dự án luật: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tại Tổ số 16, đại biểu Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang chủ trì, điều hành phiên thảo luận.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại tổ.

Tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã trao đổi, cung cấp thêm thông tin, giúp các đại biểu có thêm cơ sở nghiên cứu, tham gia góp ý đối với các dự thảo luật; đồng thời phân tích, làm rõ một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách.

Đối với dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Đắc Vinh phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tổ chức thi hành và yêu cầu hoàn thiện chính sách, qua đó cung cấp thêm cơ sở để các đại biểu nghiên cứu, tham gia góp ý đối với dự thảo luật. Đại biểu cho rằng lực lượng hòa giải chuyên sâu có thể phát huy vai trò hỗ trợ chính quyền cấp xã giải quyết ngay từ cơ sở những vụ việc có tính chất chuyên môn, pháp lý; vì vậy cần có cơ chế, chính sách phù hợp để lực lượng này hoạt động hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong thực hiện hòa giải đối với những mâu thuẫn, tranh chấp thông thường trong cộng đồng dân cư.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trao đổi, làm rõ thêm một số nội dung.

Đối với Luật Xuất bản (sửa đổi), đại biểu cho rằng việc sửa đổi Luật cần đồng thời đáp ứng hai yêu cầu: tăng cường quản lý chặt chẽ về tư tưởng và thúc đẩy phát triển kinh tế xuất bản, coi đây là hai mục tiêu có mối quan hệ bổ trợ, thống nhất. Trước sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất bản trên môi trường số và các nền tảng xuyên biên giới, đại biểu đề nghị tăng cường năng lực quản lý trên không gian mạng, nghiên cứu đổi mới phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu quả hậu kiểm; đồng thời quy định rõ tiêu chuẩn, trách nhiệm và có chính sách phù hợp đối với đội ngũ biên tập viên, tổng biên tập. Qua đó, tạo điều kiện để hoạt động xuất bản phát triển bền vững, đóng góp ngày càng thiết thực vào sự phát triển của công nghiệp văn hóa.

Đối với Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ đưa lao động phổ thông ra nước ngoài sang nâng cao chất lượng nguồn lao động, chú trọng đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng và kiến thức cần thiết để người lao động có khả năng tự bảo vệ mình, tuân thủ pháp luật nước sở tại và nâng cao thu nhập. Đồng thời, cần có cơ chế kết nối người lao động sau khi trở về với thị trường lao động trong nước; tăng cường quản lý doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, cắt giảm chi phí trung gian và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.

Đại biểu Lý Thị Lan, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh tham gia phát biểu.

Tham gia góp ý dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu Lý Thị Lan cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật lần này, đồng thời đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo chuẩn bị đồng thời dự thảo Luật cùng Nghị định, Thông tư hướng dẫn, tạo điều kiện xem xét cả chính sách và khả năng tổ chức thực hiện.

Về phân cấp, phân quyền, đại biểu ghi nhận dự thảo đã phân quyền thêm 5 nhiệm vụ cho địa phương, trong đó chỉnh lý Điều 39 theo hướng giao UBND cấp tỉnh (thay vì Chủ tịch UBND cấp tỉnh) tiếp nhận, giải quyết đăng ký hợp đồng nhận lao động thực tập, phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Tuy nhiên, đối với khoản 3, khoản 4 Điều 18 quy định UBND cấp xã theo dõi, giám sát và xử lý hoặc thông tin đến cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện vi phạm, đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế thực hiện: trường hợp nào xã xử lý, trường hợp nào chuyển cấp tỉnh, cơ quan nào ở cấp tỉnh tiếp nhận và thời hạn phối hợp. Đại biểu đề nghị giữ khoản 4 Điều 18 như dự thảo nhưng bổ sung một khoản giao Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm giữa UBND cấp xã và cấp tỉnh trong tiếp nhận, kiểm tra, xử lý và cập nhật kết quả.

Về cơ sở dữ liệu, đại biểu cho rằng không cần xây dựng hệ thống mới mà cần gắn dữ liệu với các nhiệm vụ vừa phân cấp, bảo đảm UBND cấp xã, cấp tỉnh được khai thác thông tin cần thiết tương ứng với thẩm quyền giám sát, thẩm định, hậu kiểm được giao; tránh tình trạng phân cấp thẩm quyền nhưng thông tin vẫn tập trung ở Trung ương.

Về khoảng trống pháp lý đối với lao động thời vụ, lao động khu vực biên giới, đại biểu ghi nhận giải trình của Chính phủ về việc tiếp tục tổng kết để xây dựng Luật thay thế, song đề nghị cân nhắc bổ sung tại Điều 4 một nguyên tắc chính sách hỗ trợ phù hợp đối với người lao động là người dân tộc thiểu số, người cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, địa bàn đặc biệt khó khăn tham gia các chương trình đi làm việc ở nước ngoài. Theo đại biểu, quy định này sẽ thống nhất với hướng sửa Điều 70 về trách nhiệm hỗ trợ nhóm lao động này, giúp kết cấu của Luật chặt chẽ hơn.

Đại biểu Vương Thị Hương tham gia phát biểu tại tổ.

Tham gia góp ý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Vương Thị Hương cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật hiện hành, đồng thời đề nghị rà soát, chỉnh lý một số nội dung để bảo đảm tính khả thi, thống nhất.

Về quy định tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số tại “vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số” (Điều 14), đại biểu cho rằng cụm từ này chưa bảo đảm tính xác định của quy phạm pháp luật. Dự thảo không quy định rõ “có nhiều” là bao nhiêu? được xác định theo số người tuyệt đối, theo tỷ lệ dân số hay theo đơn vị hành chính? Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và không bảo đảm áp dụng thống nhất trong cả nước. Đại biểu đề nghị dẫn chiếu theo tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được pháp luật quy định, đồng thời bổ sung tại Điều 5 chính sách ưu tiên nguồn lực cho hòa giải ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi để quy định về thành phần thực sự phát huy hiệu quả.

Về thủ tục công nhận hòa giải viên và tổ trưởng tổ hòa giải (Điều 10, Điều 16), đại biểu chỉ ra việc phải ban hành hai quyết định riêng cho cùng một đợt kiện toàn là chưa cần thiết, làm phát sinh thủ tục hành chính. Đại biểu đề nghị thiết kế một quy trình liên thông: sau khi có danh sách những người được bầu hoặc chỉ định và đủ điều kiện đề nghị công nhận làm hòa giải viên, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì để những người trong danh sách bầu Tổ trưởng. Kết quả bầu hòa giải viên và Tổ trưởng được lập chung thành một hồ sơ, gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành một quyết định công nhận hòa giải viên và Tổ trưởng tổ hòa giải. Tư cách hòa giải viên và Tổ trưởng có hiệu lực đồng thời kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

Về trách nhiệm của tổ hòa giải (Điều 15), đại biểu đề nghị bổ sung thêm một khoản vào Điều 15 quy định về trách nhiệm của tổ hòa giải, cụ thể: “1. Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với nội dung vụ, việc hòa giải nhằm giúp các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, phòng ngừa tranh chấp và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; bảo đảm nguyên tắc giữ bí mật thông tin theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này.” Về các chủ thể phối hợp tại khoản 3 Điều 15, đại biểu đề nghị sửa thành: “3. Phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, các tổ hòa giải khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động hòa giải ở cơ sở”.

Phát biểu kết thúc phiên thảo luận, đại biểu Lê Thị Kim Dung ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến trao đổi, góp ý của các đại biểu; đồng thời gợi mở thêm một số nội dung để cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện các dự án luật.

Đại biểu Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang tổng hợp các ý kiến phát biểu.

Đối với dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu đề nghị nghiên cứu xây dựng mô hình tổ hòa giải theo hướng linh hoạt, phù hợp với tính chất của từng vụ việc. Theo đó, tổ hòa giải cần có lực lượng nòng cốt ổn định; đồng thời, tùy từng vụ việc có thể mời người có uy tín, có tiếng nói hoặc am hiểu lĩnh vực liên quan tham gia hòa giải nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ kinh phí; quy định cụ thể, chặt chẽ về mức chi và điều kiện chi, bảo đảm kinh phí được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và phản ánh đúng thực chất kết quả hòa giải.

Đối với dự án Luật Xuất bản (sửa đổi), đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát Điều 12 về thành lập nhà xuất bản, làm rõ thẩm quyền của các chủ thể, cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc UBND cấp tỉnh và trường hợp tổ chức nhà xuất bản theo mô hình doanh nghiệp. Các quy định cần được thiết kế rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất với mô hình tổ chức bộ máy hiện nay và bảo đảm khả thi trong quá trình triển khai thực hiện.

Kết thúc phiên thảo luận, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo đã trao đổi, tiếp thu các ý kiến của đại biểu. Các ý kiến tại Tổ được tổng hợp để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các dự án luật trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Chiều cùng ngày, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan./.

Bàn Văn phín - Minh Huy

Tin cùng chuyên mục