Đại biểu Quốc hội Lý Thị Lan: Cần đầu tư đồng bộ hạ tầng số và làm rõ vai trò địa phương trong liên kết vùng

Chiều ngày 20/4, tham gia thảo luận về dự thảo Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, đại biểu Quốc hội Lý Thị Lan, Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH khoá XVI tỉnh bày tỏ sự nhất trí cao với các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng GDP đạt mức hai con số trở lên.

Đại biểu nhấn mạnh, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có sự thống nhất trong tư duy và hành động, đồng thời tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn mang tính nền tảng. Trên cơ sở đó, đại biểu tham gia ý kiến vào hai nội dung lớn: phát triển hạ tầng số tại khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác quy hoạch, định vị vai trò các địa phương trong liên kết vùng.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại hội trường.

Hạ tầng số – động lực tăng trưởng mới cho miền núi

Từ thực tiễn các tỉnh miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Lý Thị Lan cho rằng hạ tầng số là yếu tố nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, hiện nay hạ tầng số ở các khu vực này chưa phát triển đồng bộ, không chỉ do khoảng cách công nghệ mà còn xuất phát từ những hạn chế về hạ tầng cơ bản như điện, viễn thông và cơ chế đầu tư công chưa phù hợp với đặc thù địa bàn.

Theo đại biểu, chuyển đổi số đối với miền núi không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Thực tiễn cho thấy, nơi nào triển khai hiệu quả chuyển đổi số, nơi đó khả năng tiếp cận dịch vụ công, giáo dục, y tế và thị trường được cải thiện rõ rệt. Trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư lớn, chuyển đổi số càng có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa dịch vụ đến gần người dân và nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở.

Tuy nhiên, giữa yêu cầu và thực tiễn vẫn còn khoảng cách đáng kể, tại tỉnh Tuyên Quang, sau khi hợp nhất địa bàn, quy mô rộng hơn, yêu cầu quản trị cao hơn nhưng vẫn còn 41 thôn chưa có điện; 357 thôn, xóm có điện nhưng chưa ổn định; 199 thôn còn tình trạng “trắng sóng” hoặc “lõm sóng”. Dù toàn tỉnh đã có hơn 3.000 trạm BTS, 100% trung tâm xã có cáp quang và 5G, song khả năng tiếp cận của người dân ở các thôn, bản khó khăn vẫn chưa đồng đều.

ĐBQH Lý Thị Lan, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH khoá XVI tỉnh phát biểu tại hội trường.

Từ thực tế này, đại biểu chỉ rõ: điện đã có nhưng chưa đủ, sóng đã đến nhưng chưa phủ kín, hạ tầng số đã hình thành nhưng chưa đồng bộ để chuyển hóa thành năng lực phát triển thực chất. Do đó, không thể nói đến chính quyền số, kinh tế số hay xã hội số một cách đầy đủ nếu nền tảng điện và viễn thông chưa được bảo đảm ổn định.

Đại biểu cũng cho rằng đây không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần mà đã trở thành “điểm nghẽn” trong cấu trúc phát triển. Mặc dù nhiều chương trình lớn đang được triển khai như các chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, quy hoạch điện miền núi, nông thôn và hải đảo,… chương trình quỹ viễn thông công ích, nhưng nguồn lực vẫn phân tán, thiếu tính tích hợp. Trong khi đó, việc phủ sóng ở vùng khó khăn chủ yếu dựa vào doanh nghiệp viễn thông và Quỹ dịch vụ viễn thông công ích, song hiệu quả tài chính thấp do chi phí cao, dân cư phân tán.

Thực tế cho thấy, khi có điện, có sóng và có hướng dẫn, người dân tiếp cận rất nhanh. Điều này khẳng định điểm nghẽn nằm ở cơ chế đầu tư hạ tầng số chưa đi trước và chưa đủ mạnh.

Từ đó, đại biểu kiến nghị ba nội dung: Thứ nhất, Chính phủ cần rà soát, hoàn thiện định mức đầu tư hạ tầng số theo hướng phân biệt rõ địa bàn đặc biệt khó khăn, tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư, vận hành và bổ sung hệ số điều chỉnh phù hợp. Thứ hai, tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện – viễn thông – hạ tầng số trong cùng một chương trình hoặc dự án, lồng ghép các nguồn lực hiện có, xác định rõ đầu ra đến cấp thôn, bản. Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách viễn thông công ích, đồng thời tăng cường vai trò đầu tư của Nhà nước tại các khu vực đặc biệt khó khăn.

Đoàn ĐBQH tỉnh tham dự phiên thảo luận tại tổ.

Làm rõ vai trò địa phương trong liên kết vùng

Đối với công tác quy hoạch và liên kết vùng, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lý Thị Lan cho biết, theo Quyết định số 610/QĐ-TTg về điều chỉnh quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó các hành lang phát triển đã được hình thành. Tuy nhiên, vai trò kết nối của một số địa phương, trong đó có Tuyên Quang, vẫn cần được làm rõ hơn.

Theo đại biểu, việc định vị rõ vai trò không chỉ mang ý nghĩa về định hướng phát triển mà còn tác động trực tiếp đến khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực đầu tư. Với vị trí địa lý đặc thù, Tuyên Quang có điều kiện trở thành điểm kết nối giữa các không gian phát triển, qua đó phát huy tiềm năng nội tại và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực chung của vùng.

Thực tiễn đã thể hiện rõ qua các tuyến giao thông chiến lược như cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang; tuyến Tuyên Quang – Phú Lương kết nối với nút giao IC5 cao tốc Nội Bài – Lào Cai; các tuyến quốc lộ Tuyên Quang – Thái Nguyên và vành đai biên giới Tuyên Quang – Lào Cai. Đây không chỉ là các dự án giao thông đơn lẻ mà là các trục kết nối vùng có ý nghĩa chiến lược, quyết định khả năng liên kết, mở rộng không gian phát triển và kết nối thị trường.

Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, đại biểu nhấn mạnh việc xác định rõ vai trò của từng địa phương trong quy hoạch vùng không chỉ là yêu cầu về mặt quy hoạch mà còn là điều kiện để bảo đảm đầu tư có trọng tâm, có liên kết và có khả năng lan tỏa.

Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, cụ thể hóa vai trò của các địa phương miền núi trong quy hoạch vùng, gắn với chức năng kết nối và lan tỏa.

Hoàng Huyền

Tin cùng chuyên mục