
Từ nền tảng số hiện có đến yêu cầu phát triển thực chất
Kinh tế số đang ngày càng trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng, tác động trực tiếp đến phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và quản trị. Đối với Tuyên Quang - địa phương miền núi có địa bàn rộng, dân cư phân tán, địa hình chia cắt - phát triển kinh tế số không chỉ mở rộng không gian kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm chi phí mà còn tạo thêm cơ hội đưa sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, OCOP, du lịch và dịch vụ đến thị trường trong nước và quốc tế. Đề án phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026 - 2030 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 12/8/2026 nhằm tạo khuôn khổ thống nhất cho quá trình này.
Đến thời điểm xây dựng Đề án, toàn tỉnh có 3.130 trạm BTS đang hoạt động, trong đó có 593 trạm 5G; cáp quang đã phủ đến 100% trung tâm xã, phường. Tuy nhiên, vẫn còn 57 thôn lõm sóng, trong đó 22 thôn chưa có điện lưới quốc gia, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và khai thác các dịch vụ số tại vùng sâu, vùng xa.
Trong năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức 22 lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng và chuyển giao giải pháp công nghệ tại 53 xã, phường; hướng dẫn Tổ công nghệ số cộng đồng tại 23 xã với 4.641 lượt học viên. Đến ngày 25/6/2026, toàn tỉnh có 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng tại 100% xã, phường, thôn, tổ dân phố.
Đề án cũng chỉ ra những điểm nghẽn cần khắc phục: tỷ trọng kinh tế số trong GRDP năm 2025 mới đạt 7,39%; dữ liệu về doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số, hộ gia đình tham gia kinh tế số và mô hình kinh tế số chưa có số liệu nền thống nhất; ứng dụng công nghệ ở một số nơi còn thiên về quảng bá, mã QR, trong khi quản trị, sản xuất, logistics và dữ liệu khách hàng còn hạn chế.
Mục tiêu rõ ràng, đo lường bằng kết quả
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 20%, so với 7,39% năm 2025 và mục tiêu năm 2026 là 7,71%; tối thiểu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số; ít nhất 5% tổng số hộ gia đình duy trì hoạt động kinh tế số tạo thu nhập thực chất; 100% xã, phường lựa chọn, xây dựng hoặc tham gia ít nhất một mô hình kinh tế số phù hợp.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và OCOP, phấn đấu duy trì 100% sản phẩm OCOP còn hiệu lực có mã QR truy xuất nguồn gốc hoạt động và thông tin được cập nhật; 100% sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và sản phẩm chủ lực đủ điều kiện được chuẩn hóa thông tin số, có kênh quảng bá hoặc giao dịch. Đối với du lịch, mục tiêu là 100% khu, điểm du lịch trọng điểm, làng văn hóa du lịch cộng đồng và cơ sở du lịch đủ điều kiện được số hóa thông tin.
Đề án cũng hướng tới 100% Tổ công nghệ số cộng đồng có ít nhất một thành viên nòng cốt được cập nhật kỹ năng hỗ trợ kinh tế số; mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại chợ, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, điểm bán hàng, chủ thể OCOP và các dịch vụ thiết yếu.
Lấy dữ liệu, giao dịch và thu nhập làm thước đo
Đề án xác định dữ liệu, giao dịch, doanh thu, năng suất, chất lượng, thị trường, thu nhập và mức giảm chi phí là những thước đo quan trọng; không lấy số lượng tài khoản, mã QR, gian hàng, lượt tập huấn hay sản phẩm đăng tải làm kết quả chủ yếu nếu không phát sinh hoạt động kinh tế thực chất. Tinh thần triển khai là “làm điểm, làm nhỏ, làm chắc, làm bền vững, nhân rộng”, gắn với phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ kết quả.
Tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế của tỉnh
Đề án ưu tiên phát triển kinh tế số trong nông nghiệp, lâm nghiệp, OCOP; số hóa vùng sản xuất, vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, lô rừng, mùa vụ, sản lượng và chất lượng; chuẩn hóa thông tin nông sản, lâm sản, đặc sản, sản phẩm làng nghề; kết nối dữ liệu vùng nguyên liệu với chế biến, thương mại điện tử, vận tải và logistics.
Trong thương mại, chú trọng hỗ trợ xây dựng, vận hành gian hàng trên sàn thương mại điện tử, kết nối sản phẩm của tỉnh với các sàn và hệ thống phân phối; tổ chức các phiên chợ số, tuần lễ sản phẩm và hoạt động kết nối cung - cầu. Đối với du lịch, trọng tâm là số hóa thông tin điểm đến, cơ sở lưu trú, lữ hành và dịch vụ; phát triển quảng bá, đặt dịch vụ, thanh toán, phản hồi, bản đồ số, thuyết minh số và du lịch cộng đồng số.
Đưa kinh tế số đến từng xã, từng hộ, từng chủ thể
UBND các xã, phường có trách nhiệm rà soát lợi thế, chủ thể, sản phẩm và nhu cầu; lựa chọn, xây dựng hoặc tham gia ít nhất một mô hình kinh tế số phù hợp, có giao dịch và minh chứng kết quả. Mỗi địa phương lựa chọn từ 1 đến 3 “người kèm cặp số”, hỗ trợ nhóm hộ trong chu kỳ từ 3 đến 6 tháng, theo dõi kết quả đầu ra và phối hợp với các sở, ngành, doanh nghiệp nền tảng, đơn vị dịch vụ.
Việc rà soát hộ gia đình tham gia hoạt động kinh tế số không làm phát sinh giấy phép, giấy xác nhận, điều kiện đầu tư kinh doanh hay thủ tục hành chính mới. Cùng với hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, Đề án chú trọng an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền lợi người tiêu dùng và bí mật kinh doanh.
Tạo chuyển biến từ nhận thức đến hành động
Phát triển kinh tế số giai đoạn 2026 - 2030 là nhiệm vụ liên ngành, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của các sở, ban, ngành, chính quyền cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân. Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đánh giá; các ngành phát triển kinh tế số theo lĩnh vực quản lý; UBND xã, phường trực tiếp tổ chức mô hình tại cơ sở. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia tuyên truyền, vận động, hỗ trợ và giám sát.
Với thời gian thực hiện 2026 - 2030, sơ kết năm 2028 và tổng kết năm 2030, Đề án hướng tới biến chuyển đổi số thành kết quả cụ thể trong sản xuất, kinh doanh và đời sống - từ một sản phẩm được truy xuất, một đơn hàng trực tuyến, một giao dịch không dùng tiền mặt đến những mô hình nông nghiệp, du lịch và thương mại số tạo thêm doanh thu, thu nhập và giá trị cho người dân, doanh nghiệp và địa phương./.

Ảnh infographics minh họa có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).






