Cấp cứu kịp thời - yếu tố quyết định cơ hội sống
Đối với nhiều tình huống nguy cấp như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tai nạn giao thông, đuối nước, tai nạn lao động, cháy nổ..., thời gian có ý nghĩa quyết định. Người bệnh được tiếp cận và xử trí càng sớm thì cơ hội sống và khả năng hạn chế di chứng càng cao.
Tuy nhiên, hệ thống cấp cứu ngoại viện ở nước ta vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế; mạng lưới giữa các địa phương chưa đồng đều, nhân lực, phương tiện và trang thiết bị còn thiếu, sự phối hợp giữa các lực lượng trong một số tình huống chưa thật sự đồng bộ. Đáng chú ý, nhiều người dân khi xảy ra tình huống nguy kịch vẫn có thói quen tự đưa người bệnh đến cơ sở y tế thay vì gọi hệ thống cấp cứu chuyên nghiệp. Thực trạng này làm mất đi những phút quý giá trong “thời gian vàng”.
Đề án được xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế trên, đưa cấp cứu ngoại viện trở thành một hệ thống liên hoàn, trong đó mỗi khâu từ tiếp nhận thông tin - điều phối - tiếp cận hiện trường - sơ cứu, cấp cứu - vận chuyển - bàn giao người bệnh đều được tổ chức thống nhất và chuyên nghiệp.

Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cấp cứu ngoại viện. Ảnh minh họa.
Mục tiêu cụ thể, lấy hiệu quả cứu người làm thước đo
Đề án triển khai trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2026–2030, đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% tỉnh, thành phố triển khai mạng lưới cấp cứu ngoại viện phù hợp với điều kiện, nhu cầu của địa phương; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành giữa y tế, công an, quân đội, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, chính quyền địa phương trong quá trình cấp cứu.
Một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng, vận hành Nền tảng quản lý cấp cứu ngoại viện toàn quốc, từng bước kết nối, liên thông dữ liệu với các hệ thống tiếp nhận dịch vụ khẩn cấp 113, 114, 115. Việc ứng dụng công nghệ số sẽ giúp nâng cao năng lực tiếp nhận, xác định vị trí, điều phối lực lượng và phương tiện, đồng thời tăng khả năng phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình cứu nạn, cấp cứu.
Đề án đặt ra nhiều chỉ tiêu trực tiếp liên quan đến chất lượng phục vụ người bệnh. Đối với trường hợp cấp cứu nguy kịch, phấn đấu thời gian xuất xe cứu thương không quá 5 phút kể từ khi có quyết định điều xe; 100% cuộc gọi cấp cứu được tiếp nhận, hỗ trợ tư vấn và điều phối phù hợp. Phấn đấu 95% số cuộc vận chuyển có kết nối, phối hợp trước với cơ sở tiếp nhận điều trị và 95% số cuộc cấp cứu ngoại viện được vận hành an toàn, tuân thủ quy trình chuyên môn.
Cùng với đó, Đề án chú trọng nâng cao năng lực cấp cứu ngay từ tuyến cơ sở và cộng đồng, phấn đấu tối thiểu 75% nhân viên y tế tại Trạm Y tế cấp xã được đào tạo, tập huấn về cấp cứu ngoại viện; phổ cập kiến thức sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho tối thiểu 3% dân số, trong đó ít nhất 1% dân số được đào tạo thực hành kỹ năng sơ cứu, cấp cứu ban đầu. Hệ thống cũng từng bước được đầu tư phương tiện, phấn đấu đạt tối thiểu 1 xe cứu thương đạt chuẩn/100.000 dân.
Không chỉ là thêm xe cứu thương, mà là xây dựng một hệ thống
Điểm đáng chú ý của Đề án là tư duy phát triển cấp cứu ngoại viện được đặt trong một hệ thống thống nhất, thay vì chỉ tập trung vào phương tiện vận chuyển.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn chuyên môn về cấp cứu ngoại viện; kiện toàn tổ chức, nhân lực và mạng lưới cấp cứu phù hợp với từng địa bàn. Cùng với đó là đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị; phát triển các mô hình cấp cứu phù hợp với vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, ven biển và những khu vực có điều kiện giao thông đặc thù.
Đề án cũng chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cấp cứu ngoại viện, tổng đài viên, lái xe cứu thương và các lực lượng thường xuyên tham gia cứu nạn, cứu hộ. Việc phổ cập kỹ năng sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt, bởi trong nhiều trường hợp, những phút đầu tiên trước khi lực lượng chuyên nghiệp có mặt chính là khoảng thời gian quyết định.
Cùng với đó, khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp, đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công – tư và tăng cường truyền thông để người dân hiểu đúng, sử dụng đúng dịch vụ cấp cứu ngoại viện.
Trách nhiệm của địa phương - đưa Đề án đến gần người dân
Để Đề án thực sự đi vào cuộc sống, vai trò của chính quyền địa phương có ý nghĩa quyết định. UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chủ động xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; bố trí nhân lực, kinh phí, phương tiện, trang thiết bị và tổ chức mạng lưới cấp cứu ngoại viện trên địa bàn.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi địa phương trong quá trình tổ chức lại và nâng cao chất lượng hệ thống y tế cơ sở. Việc triển khai không thể thực hiện theo một mô hình cứng nhắc mà cần căn cứ đặc điểm dân cư, địa hình, khoảng cách đến cơ sở y tế, tình hình tai nạn, bệnh tật và khả năng huy động các lực lượng tại chỗ.
Đối với những địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư phân bố không đồng đều như Tuyên Quang, yêu cầu này càng có ý nghĩa thực tiễn. Việc củng cố năng lực cấp cứu tại Trạm Y tế cấp xã, tăng cường phương tiện và nhân lực, xây dựng phương án phối hợp giữa y tế với công an, quân đội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và chính quyền cơ sở sẽ góp phần rút ngắn thời gian tiếp cận người bệnh.
Cùng với đầu tư của Nhà nước, địa phương cần quan tâm tuyên truyền để người dân biết khi nào cần gọi cấp cứu, biết cách cung cấp thông tin và thực hiện các thao tác sơ cứu ban đầu phù hợp, hạn chế việc tự ý vận chuyển người bệnh trong những tình huống có nguy cơ đe dọa tính mạng.
Hướng tới một hệ thống cấp cứu gần dân, nhanh và hiệu quả
Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026–2030 là bước quan trọng nhằm hoàn thiện mạng lưới chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đưa dịch vụ cấp cứu đến gần người dân hơn và nâng cao khả năng ứng phó trước những tình huống khẩn cấp.
Ý nghĩa của Đề án không chỉ nằm ở việc đầu tư thêm phương tiện, trang thiết bị hay đào tạo thêm nhân lực, mà quan trọng hơn là tổ chức lại toàn bộ quy trình cấp cứu theo hướng nhanh hơn, chuyên nghiệp hơn, liên thông hơn và hiệu quả hơn.
Khi hệ thống được vận hành đồng bộ, mỗi cuộc gọi cấp cứu sẽ được tiếp nhận và điều phối nhanh chóng; mỗi người dân có thêm kiến thức để hỗ trợ trong những phút đầu tiên; mỗi địa phương có mạng lưới cấp cứu phù hợp với điều kiện thực tế. Qua đó, “thời gian vàng” được tận dụng tốt hơn, góp phần cứu sống người bệnh, giảm tử vong, hạn chế di chứng và nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân.
Xây dựng hệ thống cấp cứu ngoại viện cũng chính là xây dựng một mạng lưới bảo vệ sự sống gần dân, sẵn sàng có mặt đúng lúc, đúng nơi và đúng nhu cầu của người bệnh./.






