Dữ liệu quốc gia - Nền tảng kiến tạo động lực phát triển mới trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu ngày càng được khẳng định là nguồn lực quan trọng, tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia. Không chỉ là "nguyên liệu" của chuyển đổi số, dữ liệu còn trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), nâng cao hiệu lực quản trị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mở ra định hướng chiến lược nhằm phát huy tối đa giá trị của dữ liệu phục vụ sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.


Ảnh minh họa.

Dữ liệu - nguồn lực chiến lược của quốc gia

Điểm nổi bật của Chiến lược là lần đầu tiên dữ liệu được xác định là tài nguyên chiến lược, tài sản quốc gia và tư liệu sản xuất mới của nền kinh tế. Đây không chỉ là sự thay đổi về nhận thức mà còn là định hướng lớn trong phát triển đất nước, đưa dữ liệu trở thành nền tảng của quản trị quốc gia hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng mới.

Chiến lược nhấn mạnh phát triển dữ liệu phải gắn chặt với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; lấy việc phát triển, quản trị và khai thác hiệu quả dữ liệu làm cơ sở để thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, nâng cao năng suất lao động, hình thành các mô hình kinh doanh mới và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Đồng thời, việc phát triển dữ liệu phải bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, giữ vững chủ quyền số quốc gia và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Chiến lược cũng xác định, sau năm 2030, Việt Nam sẽ hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, liên thông và dùng chung, trong đó Trung tâm dữ liệu quốc gia giữ vai trò hạ tầng lõi, tạo nền tảng cho quản trị quốc gia hiện đại, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.

Mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu rõ ràng

Một trong những điểm nổi bật của Chiến lược là việc đề ra hệ thống mục tiêu cụ thể, lượng hóa bằng nhiều chỉ tiêu quan trọng.

Đến năm 2030, 100% việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi về dữ liệu sẽ được hoàn thành; 100% bộ, ngành và địa phương ban hành chiến lược dữ liệu, khung kiến trúc và khung quản trị dữ liệu; từ điển dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương được công bố và kết nối thống nhất với Từ điển dữ liệu quốc gia dùng chung.

Chiến lược đặt mục tiêu 100% cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu được số hóa, chuẩn hóa và làm sạch theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đồng thời đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, tạo nền tảng thực hiện nguyên tắc "dữ liệu thay giấy tờ", góp phần giảm thành phần hồ sơ, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Về hạ tầng, Chiến lược xác định hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành 03 Trung tâm dữ liệu quốc gia, phát triển hạ tầng tính toán hiệu năng cao và hạ tầng trí tuệ nhân tạo dùng chung; bảo đảm các hệ thống dữ liệu trọng yếu được dự phòng nhiều lớp, duy trì hoạt động liên tục, an toàn, bảo mật.

Đối với phát triển AI, Chiến lược đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu mở; hoàn thành chuẩn hóa các bộ dữ liệu phục vụ AI; hỗ trợ phát triển và huấn luyện tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và mô hình AI "Make in Vietnam", tạo động lực cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Trong phát triển kinh tế dữ liệu, Chiến lược hướng tới xây dựng thị trường dữ liệu minh bạch, thúc đẩy phát triển ít nhất 1.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ dữ liệu, phân tích dữ liệu, nền tảng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời hình thành tối thiểu 30 tổ chức trung gian dữ liệu tham gia thu thập, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

Nguồn nhân lực cũng được xác định là yếu tố quyết định thành công của Chiến lược. Theo đó, đến năm 2030 sẽ đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 50.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức có năng lực quản trị và khai thác dữ liệu; đào tạo kỹ năng dữ liệu và ứng dụng AI cho khoảng 300.000 lượt người lao động; hình thành đội ngũ 5.000 chuyên gia dữ liệu nòng cốt và có trên 50 cơ sở giáo dục đại học đào tạo chuyên sâu về khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực liên quan.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo; tối thiểu 90% các quyết định, chính sách quan trọng được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu và AI; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với dịch vụ công đạt từ 99% trở lên.

Đồng bộ các giải pháp để phát huy giá trị dữ liệu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu; hoàn thiện khung pháp lý phục vụ quản trị, chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

Song song với đó là phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng AI, các nền tảng chia sẻ và điều phối dữ liệu; xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia trở thành hạ tầng lõi phục vụ quản lý, điều hành và phát triển đất nước. Chiến lược cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển dữ liệu mở, dữ liệu chuyên ngành, tăng cường kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu trên nguyên tắc thống nhất, dùng chung và bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu.

Tạo nền tảng cho phát triển của mỗi địa phương

Việc ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia không chỉ tạo khuôn khổ định hướng cho phát triển dữ liệu trên phạm vi cả nước mà còn mở ra yêu cầu và cơ hội mới đối với các bộ, ngành, địa phương trong tiến trình chuyển đổi số.

Đối với các địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ hiệu quả sẽ là nền tảng quan trọng để đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành trên cơ sở dữ liệu. Đây cũng là điều kiện để đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm chi phí xã hội, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc triển khai hiệu quả Chiến lược dữ liệu quốc gia sẽ góp phần phát huy giá trị của dữ liệu trong mọi lĩnh vực của đời sống, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, chủ động hội nhập và phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số./.

 Mời bạn đọc xem chi tiết Quyết định số 1308/QĐ-TTg tại đây


Ảnh infographic minh họa.

Thanh Lê

Tin cùng chuyên mục