Phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội - động lực mới cho Tuyên Quang giai đoạn 2026 - 2030

Tuyên Quang là địa phương có lợi thế đặc biệt về tài nguyên rừng. Đến hết năm 2025 toàn tỉnh có 1.027.321,78 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng 858.397,61 ha; rừng tự nhiên 624.202,48 ha, rừng trồng 234.195,13 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,2%. Quy mô tài nguyên rừng lớn tạo nền tảng quan trọng để lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng, đồng thời đóng góp vào bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống Nhân dân.


Phát triển rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp và bảo vệ môi trường.

Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021-2025 cho thấy nền tảng của ngành lâm nghiệp tiếp tục được củng cố. Toàn tỉnh đã trồng 81.671,6 ha rừng tập trung, đạt 120% kế hoạch; khai thác gỗ rừng trồng đạt 7.153.927,4 m3, bằng 102% kế hoạch; khai thác lâm sản ngoài gỗ đạt 164.897,3 tấn, bằng 105% kế hoạch. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 96.664,578 ha, bằng 107% kế hoạch; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 8,2%, vượt mục tiêu 8%; diện tích rừng gỗ lớn đạt 85.654 ha, bằng 124% kế hoạch. Giá trị sản phẩm thu được bình quân trên một ha rừng trồng sản xuất đạt khoảng 150 triệu đồng.

Tuy nhiên, giá trị kinh tế từ rừng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Cơ cấu sản phẩm còn phụ thuộc nhiều vào gỗ rừng trồng chu kỳ ngắn; chế biến sâu, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh chưa cao. Những giá trị khác của rừng như kinh tế dưới tán rừng, dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái, dịch vụ hệ sinh thái và các-bon rừng chưa được khai thác hiệu quả. Bên cạnh đó, việc quản lý một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa hoàn thiện, sinh kế của một bộ phận người dân vùng có rừng còn hạn chế. Đây là những vấn đề đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ phát triển lâm nghiệp theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2026-2030.  Đề án được xây dựng nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 90-NQ/TU ngày 12/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; tạo khuôn khổ thống nhất để huy động, phân bổ nguồn lực, phát triển lâm nghiệp theo hướng hiện đại, đa giá trị; chuyển hóa tiềm năng, lợi thế về rừng thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng Tuyên Quang trở thành trung tâm phát triển lâm nghiệp bền vững của vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Một trong những định hướng quan trọng của Đề án là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, hoàn thiện quản trị tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp. Tỉnh sẽ rà soát, hoàn thiện hồ sơ quản lý; xác lập chủ quản lý đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê; xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng quản trị lâm nghiệp số. Cùng với đó là tăng cường phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và nâng cao năng lực của lực lượng quản lý, bảo vệ rừng.

Đề án đồng thời tạo bước chuyển căn bản trong phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và đa giá trị. Trọng tâm là phát triển vùng nguyên liệu tập trung, rừng trồng gỗ lớn, quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng; đẩy mạnh chế biến sâu, liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu sản lượng gỗ rừng trồng khai thác bình quân đạt 1,5 triệu m3/năm; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân 8-10%/năm; giá trị thu được trên một ha rừng trồng sau một chu kỳ kinh doanh đạt từ 150 triệu đồng trở lên; tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 62%.

Một điểm nhấn đáng chú ý là nâng cao chất lượng rừng và giá trị gia tăng thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Đến năm 2030, diện tích trồng rừng mới dự kiến khoảng 10.000-12.000 ha/năm, trong đó khoảng 40% diện tích rừng trồng mới là rừng gỗ lớn; diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững trên 120.000 ha. Tỷ lệ gỗ rừng trồng đưa vào chế biến sâu phấn đấu trên 70%, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 180-200 triệu USD/năm. Những mục tiêu này thể hiện rõ yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, chế biến và giá trị của từng đơn vị diện tích rừng.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực mới của ngành lâm nghiệp. Tỉnh phấn đấu xây dựng, vận hành đồng bộ cơ sở dữ liệu lâm nghiệp và cơ sở dữ liệu các-bon rừng; từng bước hoàn thiện điều tra, đánh giá tiềm năng hấp thụ, lưu giữ các-bon và chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường các-bon rừng. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, GIS, viễn thám, UAV, IoT và các nền tảng dữ liệu sẽ được ứng dụng trong quản lý, giám sát, bảo vệ và phát triển rừng.

Phát triển lâm nghiệp cũng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái và kinh tế dưới tán rừng. Đề án định hướng phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm, du lịch cộng đồng gắn với hệ sinh thái rừng, cảnh quan và bản sắc văn hóa các dân tộc; đồng thời phát triển dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, các mô hình sinh kế dưới tán rừng. Từng bước hình thành các sản phẩm du lịch sinh thái trong rừng, góp phần thực hiện mục tiêu thu hút khoảng 2 triệu lượt khách du lịch/năm khi đủ điều kiện theo Nghị quyết số 90-NQ/TU.

Điểm xuyên suốt của Đề án là phát triển lâm nghiệp phải đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội. Đến năm 2030, trên 75% lao động trong ngành lâm nghiệp được đào tạo, trên 40% lao động có bằng cấp hoặc chứng chỉ phù hợp; thu nhập bình quân của hộ gia đình làm nghề rừng tăng ít nhất 1,5 lần. Các mô hình sinh kế gắn với rừng, dược liệu, sản phẩm dưới tán rừng, dịch vụ môi trường rừng, du lịch và các-bon sẽ được quan tâm phát triển, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo và người dân ở vùng cao, vùng biên giới.

Để Đề án đi vào thực tiễn, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh cần cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ thành chương trình, kế hoạch và phần việc cụ thể; tăng cường phối hợp, huy động nguồn lực, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn. Các địa phương quản lý chặt chẽ rừng và đất lâm nghiệp, đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển sinh kế gắn với rừng; các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ rừng và cộng đồng chủ động phát triển rừng gỗ lớn, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ và phát huy các giá trị của rừng.

Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội giai đoạn 2026-2030 không chỉ là kế hoạch phát triển một ngành kinh tế, mà còn là định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên rừng. Từ bảo vệ rừng, tỉnh hướng tới làm giàu rừng; từ khai thác nguyên liệu, chuyển sang nâng cao giá trị và chế biến sâu; qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống Nhân dân./.

Thanh Lê

Tin cùng chuyên mục