Đại biểu Lý Thị Lan tham gia ý kiến về liên kết kinh tế vùng và phát triển trường phổ thông nội trú tại các địa bàn khó khăn

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 30/10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027; tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025; việc tổng kết thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội và kết thúc đầu tư xây dựng dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.

Tham gia thảo luận tại hội trường, đại biểu Lý Thị Lan đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời tập trung phân tích hai nội dung: khai thác không gian phát triển mới, tăng cường liên kết kinh tế vùng gắn với đầu tư hạ tầng kết nối; nâng cao hiệu quả hoạt động và tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại các địa bàn khó khăn.

Đại biểu Quốc hội Lý Thị Lan tham gia phát biểu tại hội trường.

Thứ nhất, về khai thác không gian phát triển mới, liên kết kinh tế vùng và đầu tư hạ tầng kết nối.

Đại biểu cho rằng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tiềm năng, lợi thế và sự liên kết giữa các vùng, các địa phương. Vấn đề cần quan tâm là làm thế nào chuyển những lợi thế đã được xác định trong quy hoạch thành các hoạt động kinh tế liên kết, tạo thêm giá trị và cơ hội phát triển cho cả vùng.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp lớn; các trung tâm công nghiệp, chế biến và dịch vụ tại Thái Nguyên, Phú Thọ; hệ thống di sản lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên phong phú và nhiều cửa khẩu kết nối với thị trường Trung Quốc. Những lợi thế này có khả năng bổ trợ cho nhau, nhưng nếu từng địa phương khai thác riêng lẻ thì khó hình thành các chuỗi sản xuất, dịch vụ và thị trường đủ sức thu hút đầu tư.

Trong mối liên kết đó, Tuyên Quang sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính có thêm điều kiện phát huy thế mạnh về kinh tế rừng, chế biến gỗ, giấy, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến của tỉnh có thể kết nối với công nghiệp, dịch vụ logistics và thị trường của Phú Thọ, Thái Nguyên, vùng Thủ đô. Về du lịch, Tân Trào có thể kết nối với ATK Định Hóa; Cao nguyên đá Đồng Văn, Na Hang - Lâm Bình liên kết với các điểm đến trong vùng, hình thành những hành trình hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy mở thêm hướng giao thương với thị trường Trung Quốc.

Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc được điều chỉnh tại Quyết định số 610/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định các hành lang kinh tế theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây. Tuy nhiên, kết nối giao thông chưa đồng bộ; liên kết giữa vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Có địa bàn có nguồn nguyên liệu nhưng thiếu năng lực chế biến, trong khi một số nơi có năng lực sản xuất lại chưa tiếp cận thuận lợi với thị trường

Vì vậy, theo đại biểu, cần đi thêm một bước từ việc xác định hành lang kinh tế trong quy hoạch, đó là làm rõ những sản phẩm, ngành hàng, dịch vụ có thể liên kết; từng địa phương có thế mạnh ở khâu nào; doanh nghiệp và người dân tham gia, hưởng lợi ra sao. Trên cơ sở nhu cầu phát triển thực tế mới xác định các kết nối hạ tầng cần ưu tiên.

Nhấn mạnh giao thông chính là huyết mạch của liên kết kinh tế vùng, đại biểu cho rằng, một tuyến cao tốc nếu chưa kết nối thuận lợi với vùng sản xuất, khu công nghiệp và cửa khẩu thì hiệu quả khai thác của cả hành lang sẽ bị hạn chế. Các trục từ vùng Thủ đô qua Phú Thọ, Tuyên Quang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và trục Đông - Tây qua Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai cần được nhìn nhận như một mạng lưới phục vụ sản xuất, thương mại, du lịch và giao thương quốc tế.

Từ thực tiễn đó, đại biểu kiến nghị hai nội dung:

Một là, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương lựa chọn những chuỗi liên kết kinh tế có lợi thế trên từng hành lang; tăng cường kết nối thông tin về vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, nhu cầu thị trường để doanh nghiệp, hợp tác xã hình thành quan hệ cung ứng ổn định. Cần phát huy vai trò lan tỏa của các trung tâm công nghiệp, dịch vụ tại Thái Nguyên, Phú Thọ đến các địa bàn miền núi, biên giới. Hiệu quả liên kết cần được đánh giá thông qua khả năng tiêu thụ sản phẩm, thu hút đầu tư, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Hai là, đề nghị ưu tiên hoàn thiện đồng bộ hạ tầng giao thông phục vụ các hành lang kinh tế: nâng cấp cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ lên bốn làn xe hoàn chỉnh; đầu tư đồng bộ cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; thúc đẩy nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư trục Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai. Đồng thời, quan tâm đầu tư các tuyến kết nối từ vùng sản xuất, cơ sở chế biến đến cao tốc, đầu mối vận tải và cửa khẩu. Việc hình thành trung tâm logistics cần căn cứ vào nguồn hàng, nhu cầu vận tải và khả năng tham gia của doanh nghiệp.

Các vị đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang tại phiên thảo luận.

Thứ hai, về hiệu quả hoạt động và tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại các địa bàn khó khăn.

Đại biểu cho rằng, chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được đồng bào các dân tộc đón nhận với niềm vui và sự trân trọng. Chỉ trong thời gian ngắn, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của các địa phương, trong đợt triển khai 108 trường đầu tiên trên cả nước, nhiều ngôi trường đã kịp đón học sinh vào năm học 2026 - 2027. Đây là sự quan tâm rất cụ thể của Đảng, Nhà nước đối với việc học tập và tương lai của con em vùng biên giới.

Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả lâu dài, điều kiện vận hành phải được chuẩn bị đồng bộ với tiến độ xây dựng. Thông báo số 523/TB-VPCP ngày 13/10/2026 của Văn phòng Chính phủ đã chỉ ra những khó khăn về nhân lực quản sinh, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng, giáo vụ. Trường nội trú liên cấp vừa tổ chức dạy học, vừa nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý học sinh ngoài giờ, ở nhiều lứa tuổi; vì vậy cần có mô hình tổ chức, đội ngũ nhân lực và kinh phí phù hợp với đặc thù này.

Đại biểu đề nghị Chính phủ sớm chỉ đạo đánh giá thực tiễn hoạt động của những trường đã được đưa vào sử dụng, nhất là về đội ngũ giáo viên, nhân viên; chất lượng học tập, sức khỏe, khả năng thích nghi và việc duy trì sĩ số của học sinh. Qua đó, kịp thời rút kinh nghiệm, hoàn thiện phương án tổ chức và điều kiện vận hành đối với các trường nội trú liên cấp đang triển khai giai đoạn hai, bảo đảm hoạt động ổn định ngay khi hoàn thành, đưa vào sử dụng.

Bên cạnh các xã biên giới, đại biểu đề nghị nghiên cứu tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại những xã nội địa đặc biệt khó khăn. Đây là những địa bàn tuy không giáp biên giới nhưng có địa hình chia cắt, dân cư phân tán, đường đến trường xa, nhu cầu học nội trú, bán trú rất lớn. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã đặt ra mục tiêu hoàn thành mạng lưới trường phổ thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030.

Đại biểu đề nghị Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các địa phương khảo sát, lựa chọn những xã nội địa thực sự có nhu cầu, xác định quy mô và lộ trình đầu tư phù hợp. Việc mở rộng cần dựa trên kết quả đánh giá mô hình trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, đồng thời tính toán đầy đủ chính sách đối với học sinh, đội ngũ giáo viên, nhân viên và kinh phí vận hành lâu dài.

Nguyễn Lượng

Tin cùng chuyên mục