
Kính thưa Quốc hội,
Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị của Chính phủ và các cơ quan trong việc tích hợp 04 Chương trình mục tiêu quốc gia thành một Chương trình chung, nhất là trong điều kiện thời gian chuẩn bị rất khẩn trương. Dự thảo đã thể hiện rõ hướng đổi mới trong quản lý, phân bổ nguồn lực, tăng cường phân cấp và khắc phục những bất cập trong quá trình thực hiện các Chương trình thời gian qua.
Qua thực tiễn triển khai tại địa phương, tôi xin tham gia hai vấn đề liên quan trực tiếp đến cơ chế tổ chức thực hiện Chương trình.
Thứ nhất, về phân cấp, phân quyền, tôi đề nghị làm rõ hơn quyền chủ động của địa phương trong lựa chọn phương thức thực hiện.
Khoản 3 Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định việc phân cấp cho cấp xã phải phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn. Dự kiến Nghị quyết của Chính phủ cũng xác định địa phương quyết định nội dung, phân bổ chi tiết ngân sách, phê duyệt danh mục nhiệm vụ, dự án theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết quả. Tôi đồng tình với hướng này.
Tuy nhiên, từ thực tiễn giai đoạn trước, tôi cho rằng cần thể hiện rõ hơn quyền lựa chọn phương thức thực hiện. Trong phạm vi mục tiêu, đối tượng và nguồn lực đã được xác định, địa phương cần được chủ động lựa chọn cách thức phù hợp với điều kiện thực tế.
Tôi xin nêu một dẫn chứng. Giai đoạn 2021–2025, tại địa phương có 3.428 hộ có nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất nhưng chỉ thực hiện được 47 hộ. Nguyên nhân chủ yếu là nhiều địa bàn không còn quỹ đất để giao; định mức hỗ trợ 22,5 triệu đồng/hộ thấp so với giá chuyển nhượng thực tế, trong khi hộ nghèo không có khả năng bố trí phần kinh phí còn thiếu. Trong khi đó, chuyển sang hỗ trợ chuyển đổi nghề thì đã thực hiện được cho 3.479 hộ.
Như vậy, cùng hướng tới mục tiêu tạo sinh kế, ổn định đời sống cho người dân nhưng khả năng thực hiện của từng phương thức hỗ trợ rất khác nhau. Có trường hợp chính sách đúng mục tiêu, đúng đối tượng nhưng phương thức hỗ trợ chưa phù hợp với điều kiện thực tế nên rất khó thực hiện.
Dự kiến Nghị quyết của Chính phủ lần này đã đặt hỗ trợ đất sản xuất và hỗ trợ chuyển đổi nghề trong cùng nhóm chính sách. Vì vậy, tôi đề nghị khi hoàn thiện khoản 3 Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và khoản 2 Điều 3 dự kiến Nghị quyết của Chính phủ, cần xác định rõ: Trung ương quy định mục tiêu, đối tượng, nguyên tắc, tiêu chuẩn và giới hạn nguồn lực; trong cùng mục tiêu, cùng nhóm đối tượng, địa phương được chủ động lựa chọn phương thức hỗ trợ phù hợp và chịu trách nhiệm về kết quả.
Một vấn đề nữa là phân cấp xuống cấp xã.
Đối với các địa phương miền núi, biên giới, đông đồng bào dân tộc thiểu số, phần lớn nhiệm vụ của Chương trình sẽ được thực hiện trực tiếp ở cơ sở, trong khi năng lực về đầu tư, đấu thầu, mua sắm, quản lý tài chính giữa các xã chưa đồng đều.
Theo tôi, việc nào thuộc thẩm quyền và khả năng của xã thì giao xã chủ động thực hiện; những khâu chuyên môn, kỹ thuật mà xã chưa đủ năng lực thì cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ. Đối với nhiệm vụ quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, trực tiếp phục vụ cộng đồng và người dân, đề nghị quy định quy trình, thủ tục phù hợp. Phân cấp thẩm quyền cần gắn với đơn giản hóa thủ tục để cấp xã thực hiện được và chịu trách nhiệm về kết quả.
Tôi cũng đề nghị cụ thể hóa khoản 5 Điều 3 dự kiến Nghị quyết của Chính phủ về chuyển đổi số, theo hướng xây dựng hệ thống hướng dẫn số dùng chung để cán bộ cấp xã có thể tra cứu ngay đối tượng thụ hưởng, mức hỗ trợ, nguồn vốn, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự và căn cứ pháp lý. Trên nền tảng dữ liệu và quy trình được chuẩn hóa, có thể nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ tra cứu, hướng dẫn và cảnh báo trong quá trình thực hiện.
Thứ hai, về vốn đối ứng, tôi đề nghị rà soát khoản 2 Điều 14 và tiêu chí tại Phụ lục I dự kiến Nghị quyết của Chính phủ.
Khoản 2 Điều 14 quy định địa phương bảo đảm bố trí đủ vốn đối ứng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự toán ngân sách hằng năm theo tỷ lệ tối thiểu tại Phụ lục I.
Đối với các tỉnh miền núi, biên giới, đông đồng bào dân tộc thiểu số, chưa tự cân đối được ngân sách, tôi cho rằng quy định này cần được tính toán kỹ hơn.
Những địa phương này thường có số đối tượng thụ hưởng lớn, nhu cầu đầu tư cao nên nguồn lực Trung ương phân bổ lớn. Nếu vốn đối ứng xác định theo tỷ lệ vốn Trung ương giao thì số tuyệt đối địa phương phải bố trí cũng tăng, trong khi khả năng cân đối ngân sách lại hạn chế. Có thể xảy ra trường hợp Trung ương đã bố trí nguồn lực nhưng địa phương khó sử dụng hết do không bảo đảm được vốn đối ứng.
Đặc biệt, tại Phụ lục I, kết quả bố trí vốn đối ứng năm trước còn được sử dụng để tính điểm phân bổ vốn năm sau; bố trí đủ được 0,2 điểm, không đủ thì 0 điểm.
Tôi băn khoăn về tiêu chí này. Nếu địa phương không bố trí đủ vốn đối ứng do khó khăn về khả năng cân đối ngân sách, năm sau lại bị giảm điểm khi phân bổ thì chính địa phương khó khăn lại tiếp tục bất lợi, trong khi đây là những địa bàn cần được ưu tiên nguồn lực.
Vì vậy, tôi đề nghị tại khoản 2 Điều 14 và Phụ lục I, nghĩa vụ đối ứng cần được xác định trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách, mức độ khó khăn của địa phương và tính chất từng nhóm nhiệm vụ. Đối với công trình có khả năng huy động thêm nguồn lực thì quy định tỷ lệ đối ứng phù hợp; đối với chính sách trực tiếp giải quyết những thiếu hụt thiết yếu của hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số như đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế thì cần có mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cao hơn.
Đồng thời, đề nghị rà soát tiêu chí chấm điểm vốn đối ứng tại Phụ lục I, tránh để khó khăn về khả năng cân đối ngân sách của năm trước trở thành yếu tố làm địa phương tiếp tục bất lợi trong phân bổ nguồn lực năm sau.
Kính thưa Quốc hội,
Những vướng mắc của giai đoạn trước đã được nhận diện khá rõ. Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát để cơ chế mới phù hợp với khả năng thực hiện của địa phương và nguồn lực đến đúng địa bàn, đối tượng cần được ưu tiên.
Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.






