Bảo đảm điều kiện để đại biểu thực hiện nhiệm vụ
Nghị quyết số 1206/2016/NQ-UBTVQH13 được ban hành năm 2016, quy định tương đối toàn diện về chế độ, chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu HĐND các cấp. Qua 10 năm triển khai, các quy định của Nghị quyết đã trở thành cơ sở quan trọng để địa phương bảo đảm quyền lợi và điều kiện cần thiết cho đại biểu thực hiện chức năng quyết định, giám sát và đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Quang cảnh kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Tại Tuyên Quang, việc thực hiện Nghị quyết được gắn với việc cụ thể hóa các chế độ chi, xây dựng dự toán và bố trí nguồn lực hằng năm. Sau khi hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 06/2025/NQ-HĐND ngày 25/8/2025, tiếp tục quy định một số chế độ chi bảo đảm hoạt động của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh, đồng thời kế thừa các quy định của 1206/2016/NQ-UBTVQH13 và pháp luật có liên quan.
Thực tế cho thấy, các chế độ về tiền lương, hoạt động phí, bảo hiểm, kinh phí tiếp xúc cử tri, giám sát, khảo sát, công tác phí, thông tin, tài liệu, cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ hoạt động khác cơ bản được bảo đảm. Việc chi trả các chế độ, chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng quy định; nguồn kinh phí phục vụ hoạt động của HĐND được bố trí trong dự toán ngân sách.
Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số từng bước được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả cung cấp, khai thác và trao đổi tài liệu phục vụ kỳ họp, giám sát, khảo sát và tiếp xúc cử tri.
Những điều kiện bảo đảm này đã góp phần tạo nền tảng để đại biểu HĐND tham gia ngày càng đầy đủ vào các hoạt động của cơ quan dân cử, từ thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương đến giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri.

Chủ tọa kỳ họp Chủ trì, điều hành tại kỳ họp thứ ba (kỳ họp chuyên đề) HĐND tỉnh.
Địa bàn rộng, yêu cầu hoạt động ngày càng cao
Một trong những vấn đề nổi lên qua tổng kết là sự thay đổi rất lớn về quy mô tổ chức và địa bàn hoạt động của HĐND sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Sau hợp nhất, tỉnh Tuyên Quang có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư phân bố không đồng đều; nhiều xã thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông và hạ tầng giữa các khu vực còn khác nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu.
Đặc biệt, sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025, quy mô và khối lượng công việc của HĐND cấp xã tăng lên. Đại biểu phải dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động tại cơ sở, tiếp xúc cử tri, giám sát, khảo sát và nắm tình hình thực tế.
Trong khi đó, một số mức chi, định mức và điều kiện bảo đảm hoạt động được xây dựng từ nhiều năm trước chưa theo kịp những thay đổi về giá cả, chi phí đi lại, điều kiện địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ. Với các xã miền núi, khoảng cách xa, dân cư phân tán, chi phí thực tế để tổ chức các hoạt động của HĐND có thể cao hơn đáng kể so với mức chi hiện hành.

Tổ đại biểu HĐND tỉnh thực hiện tiếp xúc cử tri sau kỳ họp HĐND tỉnh.
Đây cũng là lý do Thường trực HĐND tỉnh cho rằng việc đánh giá Nghị quyết số 1206 cần đặt trong bối cảnh mới, không chỉ xem xét từng khoản chi mà phải nhìn từ yêu cầu bảo đảm để đại biểu thực hiện thực chất chức năng, nhiệm vụ được giao.
Những chính sách cần được cập nhật
Qua tổng kết, nhiều quy định của Nghị quyết số 1206 vẫn giữ nguyên giá trị, nhất là các nguyên tắc về chế độ, chính sách và bảo đảm kinh phí hoạt động của HĐND. Tuy nhiên, một số nội dung cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền hiện nay.
Đáng chú ý là mức hoạt động phí và một số khoản chi phục vụ nhiệm vụ của đại biểu chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về diện tích, dân số, địa hình, khoảng cách và điều kiện kinh tế - xã hội giữa các địa bàn. Trong khi yêu cầu hoạt động ngày càng cao, mức hỗ trợ chưa được điều chỉnh tương ứng.
Hoạt động của HĐND cũng đang đứng trước yêu cầu mới về chuyển đổi số, khai thác dữ liệu và nghiên cứu chính sách chuyên sâu. Trong khi đó, Nghị quyết hiện hành chưa quy định đầy đủ về điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu trong môi trường số, kinh phí phục vụ khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin hay cơ chế huy động chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức tư vấn độc lập hỗ trợ hoạt động thẩm tra, giám sát.

Đoàn công tác của Thường trực HĐND tỉnh làm việc trực tiếp tại cơ sở.
Một vấn đề khác được HĐND tỉnh lưu ý là điều kiện bảo đảm hoạt động của đội ngũ tham mưu, giúp việc. Khối lượng công việc ngày càng lớn, nhiều nội dung thẩm tra, giám sát có tính chuyên môn sâu, nhưng cơ chế và kinh phí hỗ trợ thư ký, chuyên viên tham mưu, phục vụ hoạt động của Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND chưa được quy định đầy đủ.
Đối với cấp xã, việc Chủ tịch HĐND và Trưởng các Ban HĐND phải dành ít nhất một phần ba thời gian cho hoạt động của HĐND nhưng chưa có cơ chế phụ cấp kiêm nhiệm tương xứng cũng là nội dung cần được xem xét.
Kiến nghị từ thực tiễn địa phương
Từ thực tiễn triển khai, Thường trực HĐND tỉnh Tuyên Quang kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu tổng kết toàn diện và xem xét ban hành văn bản mới thay thế Nghị quyết số 1206/2016/NQ-UBTVQH13, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hiện nay.

Thường trực HĐND tỉnh tổ chức phiên họp giải trình.
Trong đó, tỉnh đề nghị rà soát, điều chỉnh mức hoạt động phí và các chế độ bảo đảm hoạt động của đại biểu theo hướng phù hợp hơn với mặt bằng giá cả, tiền lương và điều kiện kinh tế - xã hội. Cụ thể, đề nghị nâng hoạt động phí của đại biểu HĐND cấp xã từ 0,3 lên 0,5 lần mức lương cơ sở; đại biểu HĐND cấp tỉnh từ 0,5 lên 0,7 lần mức lương cơ sở.
Đối với đại biểu HĐND hoạt động không chuyên trách không hưởng lương hoặc trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ bảo hiểm xã hội, tỉnh đề nghị nâng mức tiền công theo ngày thực tế thực hiện nhiệm vụ từ 0,10 lên 0,12 mức lương cơ sở/ngày đối với đại biểu cấp xã và từ 0,14 lên 0,16 mức lương cơ sở/ngày đối với đại biểu cấp tỉnh.

Các Ban của HĐND tỉnh họp thẩm tra các nội dung trình tại kỳ họp.
Đồng thời, tỉnh đề nghị nghiên cứu cơ chế linh hoạt để địa phương được quyết định một số mức chi phù hợp với đặc thù về địa hình, diện tích, dân số, khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội, trên cơ sở khung và nguyên tắc thống nhất của Trung ương.
Một đề xuất đáng chú ý khác là bổ sung cơ chế, kinh phí hỗ trợ thư ký, chuyên viên tham mưu, giúp việc và phục vụ hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND; đồng thời có cơ chế huy động chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức tư vấn độc lập phục vụ hoạt động thẩm tra, giám sát và xây dựng chính sách.
Bảo đảm để HĐND hoạt động thực chất, hiệu quả
Từ thực tiễn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 1206, có thể thấy chính sách bảo đảm hoạt động không chỉ là vấn đề chế độ đối với đại biểu, mà còn là một trong những điều kiện trực tiếp quyết định khả năng thực hiện chức năng của HĐND.
Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương có nhiều thay đổi, địa bàn quản lý mở rộng, yêu cầu quản trị ngày càng cao, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách cần hướng đến mục tiêu tạo điều kiện để đại biểu có đủ thời gian, nguồn lực và phương tiện thực hiện nhiệm vụ, nhất là ở cơ sở và những địa bàn khó khăn.
Việc nghiên cứu thay thế, cập nhật Nghị quyết số 1206/2016/NQ-UBTVQH13 không chỉ nhằm điều chỉnh các mức chi, mà quan trọng hơn là xây dựng một cơ chế bảo đảm hoạt động phù hợp với mô hình chính quyền mới, yêu cầu chuyển đổi số và thực tiễn của từng địa phương. Đây sẽ là cơ sở để HĐND các cấp tiếp tục nâng cao chất lượng quyết định, giám sát và đại diện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới./.






