Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính không chỉ góp phần giảm chi phí, thời gian thực hiện thủ tục mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung để cấp mã số vùng trồng quy mô lớn. Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Thực hiện toàn trình trên môi trường số
Một trong những điểm đổi mới nổi bật của Nghị quyết là quy định việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự kê khai, tự chịu trách nhiệm. Việc giải quyết thủ tục hướng tới giảm tối đa thời gian, chi phí tuân thủ, không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với thực tiễn sản xuất.
Đặc biệt, Nghị quyết chuyển mạnh từ tư duy "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Chỉ những trường hợp thị trường nhập khẩu có yêu cầu mới thực hiện kiểm tra trước; các trường hợp còn lại được tăng cường hậu kiểm, giám sát và truy xuất nguồn gốc. Đây là bước đổi mới quan trọng, vừa tạo thuận lợi cho người sản xuất, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho cấp xã
Một nội dung có ý nghĩa lớn của Nghị quyết là tăng cường phân cấp trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói. Đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang các thị trường yêu cầu mã số, thời hạn giải quyết không quá 3 ngày làm việc. Đối với trường hợp xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu mã số, thời hạn giải quyết tối đa là 10 ngày làm việc sau khi thực hiện kiểm tra theo quy định.
Việc giao Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp thực hiện các thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số thể hiện chủ trương phân cấp mạnh mẽ, giúp người dân và doanh nghiệp được giải quyết công việc ngay tại cơ sở, giảm đáng kể thời gian và chi phí đi lại.
Minh bạch dữ liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc
Nghị quyết quy định dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan theo quy định của pháp luật.
Thông tin về mã số, đơn vị được cấp, sản phẩm, diện tích, thị trường xuất khẩu và tình trạng hoạt động của mã số được cập nhật công khai để các tổ chức, cá nhân thuận tiện tra cứu, góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường khả năng kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Khuyến khích hình thành vùng nguyên liệu tập trung
Nghị quyết cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác tăng cường liên kết sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để được cấp mã số vùng trồng. Đây là định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đồng bộ quy trình kỹ thuật, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bảo đảm quyền lợi của người dân và doanh nghiệp
Nghị quyết khẳng định rõ mã số vùng trồng chỉ là công cụ phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc, không xác lập, không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, các mã số đã được cấp trước khi Nghị quyết có hiệu lực vẫn tiếp tục được sử dụng theo định dạng đã cấp, bảo đảm tính ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.
Trong quá trình thực hiện, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ thông tin khi đề nghị cấp mã số; các cơ quan nhà nước thực hiện hậu kiểm, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm tính chính xác và uy tín của hệ thống mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp bền vững
Việc ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường hậu kiểm và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý cũng như của người sản xuất.
Đối với các địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp như Tuyên Quang, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng diện tích vùng trồng được cấp mã số, nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, góp phần phát triển nền nông nghiệp xanh, hiện đại, minh bạch và bền vững.
Mỗi địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và người sản xuất cần chủ động tìm hiểu các quy định mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, nâng cao ý thức truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, góp phần xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam ngày càng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế./.

Ảnh infographics minh họa có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Mời bạn đọc xem chi tiết nội dung Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tại đây






