

Các vị đại biểu quốc hội khoá XVI tỉnh Tuyên Quang tham dự kỳ họp.
Trước đó, tại hội trường, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về: Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); Luật Đấu thầu (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi); Dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật và Báo cáo về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật

Đại biểu Lý Thị Lan phát biểu thảo luận.
Phát biểu thảo luận, đại biểu Lý Thị Lan nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản, đại biểu ghi nhận sự chuẩn bị, tinh thần tiếp thu của Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo, nhất là việc hoàn thiện các quy định về phân cấp thẩm quyền, xử lý tình huống khẩn cấp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản. Đại biểu góp ý một số vấn đề quan trọng nhằm hoàn thiện dự thảo:
Về thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản của Chủ tịch UBND cấp xã tại Điều 17 và Điều 24, đại biểu đề nghị tiếp tục làm rõ giới hạn thẩm quyền và cơ chế phối hợp khi tình huống khẩn cấp xảy ra trên địa bàn liên xã và chỉnh lý theo hướng: Xác định rõ giới hạn thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã theo loại tài sản, địa điểm có tài sản và phạm vi thực hiện quyết định; phân biệt rõ trường hợp tài sản nằm trên địa bàn nhiều xã với trường hợp tài sản được huy động từ một xã để phục vụ nhiệm vụ có phạm vi ảnh hưởng liên xã. Quy định cơ chế phối hợp giữa các xã và trách nhiệm điều phối, quyết định của cấp tỉnh đối với những trường hợp vượt thẩm quyền cấp xã; dự liệu cách thức xử lý khi sự cố xảy ra đột ngột, thông tin liên lạc bị gián đoạn. Đối với trường hợp phải quyết định ngay trong tình huống khẩn cấp, cần có quy trình ghi nhận tối thiểu về căn cứ huy động, loại tài sản, hiện trạng, thời điểm và việc bàn giao; hoàn thiện hồ sơ theo thời hạn luật định để bảo đảm có căn cứ kiểm tra, giám sát sau khi thực hiện.
Về xác định giá, bảo đảm kinh phí thanh toán và bồi thường thiệt hại tại Điều 19, Điều 20 và Điều 29, đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng theo hướng quy định rõ nguyên tắc bảo đảm kinh phí tương ứng với thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản. Liên quan đến việc xác định giá và thiệt hại (Điều 19), đại biểu đề nghị làm rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn xác định lại giá và trách nhiệm tổ chức thẩm định khi có bất đồng; bảo đảm việc xác định lại giá được thực hiện khách quan, kịp thời, không phụ thuộc vào cách hiểu khác nhau về thời điểm chấm dứt tình huống trưng mua; hoàn thiện quy định tại Điều 29 và văn bản hướng dẫn theo hướng xác định rõ căn cứ, phương pháp chứng minh thiệt hại phù hợp với điều kiện thực tế.
Về kỹ thuật lập pháp, đại biểu đề nghị phân định rõ những quy định phải được áp dụng thống nhất theo Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản, nhất là về điều kiện, trình tự quyết định, thanh toán, bồi thường và bảo vệ quyền của người có tài sản; đồng thời cho phép luật chuyên ngành quy định trường hợp, thẩm quyền đặc thù khi thật sự cần thiết.

Đại biểu Ma Thị Thúy phát biểu thảo luận.
Tháo gỡ vướng mắc pháp luật cần rõ tiến độ và trách nhiệm.
Góp ý về tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, đại biểu ghi nhận nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành trong triển khai Nghị quyết số 206 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; việc thực hiện cơ chế đặc biệt đã góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước thông suốt, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá thực chất kết quả xử lý vướng mắc pháp luật, làm rõ tiến độ hoàn thiện các văn bản và gắn việc kéo dài hiệu lực cơ chế đặc biệt với trách nhiệm cụ thể.
Phân định rõ kết quả đã hoàn thành.
Đại biểu đề nghị rà soát, thống nhất số liệu, phân định rõ văn bản đã ban hành, văn bản đã trình và văn bản đang xây dựng. Theo báo cáo, đến ngày 12/10/2026, số văn bản đã được trình hoặc ban hành là 112 trong tổng số 317 văn bản cần nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, đạt 35,33%. Trong số này có 8 luật mới được trình Quốc hội. Vì vậy, cần làm rõ số lượng văn bản thực sự đã hoàn tất để phản ánh chính xác mức độ hoàn thành công việc. Đại biểu cũng lưu ý sự chưa thống nhất giữa báo cáo và phụ lục về cơ quan ban hành hai nghị quyết, đề nghị Chính phủ đối chiếu, chỉnh lý đồng bộ.
Ấn định trách nhiệm xử lý văn bản còn tồn đọng.
Một vấn đề được đại biểu quan tâm là khối lượng văn bản còn phải xử lý khá lớn. Theo báo cáo, còn 205 trong tổng số 317 văn bản, chiếm 64,67%, cần tiếp tục xử lý trước ngày 1/3/2027; trong đó có 34 luật, 105 nghị định, 59 thông tư và các văn bản khác. Đại biểu đề nghị đánh giá cụ thể nguy cơ chậm tiến độ, xác định từng văn bản có thể hoàn thành đúng hạn, từng văn bản có nguy cơ chậm và phương án xử lý tương ứng. Đối với mỗi văn bản, cần xác định rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm phối hợp và thời hạn hoàn thành. Đặc biệt, cần tập trung xử lý số lượng lớn văn bản dưới luật, nhất là những văn bản chưa xác định thời hạn hoặc đã quá thời hạn do cơ quan tự đặt ra. Cùng với đó, đại biểu đề nghị lượng hóa các tồn tại, hạn chế, bổ sung dẫn chứng theo từng cơ quan, lĩnh vực; phân tích rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của việc chậm xử lý. Cần xác định vướng mắc bắt nguồn từ nội dung chính sách, quy trình xây dựng văn bản hay khâu tổ chức thực hiện để có giải pháp phù hợp và làm rõ trách nhiệm khắc phục.
Gia hạn phải gắn với lộ trình hoàn thiện pháp luật.
Đại biểu cơ bản tán thành đề xuất cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của một số nghị quyết của Chính phủ được ban hành theo Nghị quyết số 206, tối đa đến ngày 31/12/2027. Mỗi trường hợp cần gắn với tiến độ sửa đổi, bổ sung văn bản liên quan và trách nhiệm hoàn thành; đồng thời cụ thể hóa các yêu cầu của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật. Đại biểu nhất trí đưa nội dung đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 206 và việc kéo dài thời hạn có hiệu lực của các văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt, tối đa đến ngày 31/12/2027, vào nghị quyết kỳ họp của Quốc hội.

Đại biểu Hoàng Ngọc Định phát biểu thảo luận.
Phát biểu thảo luận, đại biểu Hoàng Ngọc Định đánh giá cao dự thảo đã đưa yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh vào cơ sở xác định chính sách và nội dung đánh giá tác động. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 26 yêu cầu nhận diện, đánh giá riêng tác động về quốc phòng, an ninh đối với chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực này; đồng thời xác định giải pháp phòng ngừa, khắc phục. Khi còn ý kiến khác nhau về nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, cơ quan chủ trì phải tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Về thẩm quyền ban hành, quy định chi tiết và mối quan hệ giữa pháp luật chung với pháp luật chuyên ngành, đại biểu đề nghị hoàn thiện theo hướng việc giao quy định chi tiết phải cụ thể, có giới hạn và có trách nhiệm theo dõi tiến độ ban hành, bảo đảm văn bản quy định chi tiết có hiệu lực đúng thời điểm. Đồng thời, cần bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành về quốc phòng, tránh chồng chéo hoặc khoảng trống trong quản lý, chỉ huy và thực hiện nhiệm vụ.
Về văn bản quy phạm pháp luật thí điểm chính sách, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế lấy ý kiến cơ quan quản lý quốc phòng, an ninh khi đánh giá chính sách thí điểm ở địa phương có tác động trực tiếp đến các nội dung này.
Về trình tự, thủ tục rút gọn và việc ban hành văn bản trong trường hợp đặc biệt, đại biểu đề nghị tại Điều 46 xác định trách nhiệm ưu tiên lấy ý kiến cơ quan quản lý chuyên ngành trực tiếp liên quan bằng hình thức phù hợp, trừ trường hợp việc lấy ý kiến không thể thực hiện do tính chất đặc biệt cấp bách; nếu không lấy ý kiến, phải giải trình lý do trong hồ sơ. Việc tham vấn tài liệu mật phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Đối với Điều 47, đề nghị làm rõ tiêu chí áp dụng trường hợp đặc biệt và ranh giới với thủ tục rút gọn, tránh vận dụng quá rộng.
Về cơ chế pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật khi Quốc hội không thể họp, đại biểu kiến nghị Một là, quy định cụ thể tiêu chí xác định trường hợp “Quốc hội không thể họp” và tính chất “khẩn cấp, cấp bách”; giới hạn nội dung được điều chỉnh, bảo đảm không làm thay đổi các vấn đề cơ bản thuộc thẩm quyền Quốc hội hoặc làm giảm các bảo đảm hiến định về quyền con người, quyền công dân. Hai là, làm rõ cơ sở của việc phân chia thẩm quyền theo tiêu chí văn bản “do Chính phủ trình” hoặc “không do Chính phủ trình”. Ba là, chỉnh lý khoản 2 Điều 51 cho phép văn bản tiếp tục có hiệu lực nếu Quốc hội vẫn không thể họp, cho đến khi Quốc hội ban hành luật để xử lý; bổ sung điều kiện duy trì hiệu lực, cơ chế báo cáo và giám sát định kỳ, trách nhiệm công khai tình trạng áp dụng theo phạm vi pháp luật cho phép và cơ chế để Quốc hội xem xét, quyết định ngay khi có điều kiện.

Đại biểu Nguyễn Việt Hà phát biểu thảo luận.
Thảo luận vào Dự án Luật văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu Nguyễn Việt Hà thống nhất với sự cần thiết ban hành Luật Văn bản quy phạm pháp luật. Đại biểu tham gia một số vấn đề: Thứ nhất Khoản 7 Điều 5: Quy định một số luật, bộ luật có giá trị “chi phối, định hướng” các luật khác nhưng không xác định nguyên tắc xử lý khi có xung đột pháp luật. Đại biểu đề nghị xem xét lại tính cần thiết của quy định, theo đại biểu cơ sở chính trị, căn cứ pháp lý không đặt ra yêu cầu này, đại biểu cho rằng việc bổ sung nguyên tắc “chi phối, định hướng” tại khoản 7 Điều 5 là một nội dung có ý nghĩa pháp lý riêng, việc quy định như dự thảo dễ dẫn đến hiểu sai về thứ bậc hiệu lực pháp lý của các luật này cao hơn so với các luật khác, việc quy định cần có căn cứ chính sách rõ ràng, tránh gây khó khăn, thiếu thống nhất trong thực thi pháp luật. Thứ hai Khoản 8 Điều 5, đại biểu cho rằng cách phân biệt quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thực hiện quyền lực nhà nước và cách quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về pháp lý có thể dẫn đến cách quy định pháp luật quá cứng nhắc, chưa thực sự phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu linh hoạt trong quản lý nhà nước. Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 8 theo hướng xác định mức độ cụ thể của quy phạm pháp luật căn cứ vào tính chất của vấn đề cần điều chỉnh, yêu cầu quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích công và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đồng thời phân định rõ những nội dung phải quy định trong luật với những nội dung có thể giao quy định chi tiết ở văn bản dưới luật. Thứ ba Khoản 1 Điều 8, đại biểu đề nghị cân nhắc lại nội dung này, trên thực tiễn một trong những nguyên nhân dẫn đến công tác thực thi pháp luật còn hạn chế là do có nhiều văn bản, khó khai thác, việc quy định như dự thảo sẽ gây khó khăn trong việc theo dõi, khai thác, đối chiếu quy định pháp luật cho người dân và doanh nghiệp do văn bản hướng dẫn luật nằm rải rác ở các văn bản khác nhau. Thứ tư về khoản 4 Điều 8 dự thảo Luật quy định “Văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính phải có điều khoản riêng hoặc phụ lục kèm theo xác định tên thủ tục hành chính”, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc lại tính khả thi và phạm vi áp dụng. Trong thực tiễn, quy định có liên quan đến thủ tục hành chính không phải lúc nào cũng nên thiết kế ở một điều luật độc lập vì cần đảm bảo tính logic với nội dung quy phạm pháp luật khác, nếu tách ra có thể gây khó khăn cho việc đối chiếu, khai thác, theo dõi, áp dụng pháp luật, đồng thời có thể phát sinh thêm yêu cầu hình thức mà chưa chắc giúp người dân, doanh nghiệp thuận tiện hơn trong thực hiện. Thứ năm, đại biểu băn khoản về cơ chế Chính phủ ban hành VBQPPL để điều chỉnh quy định của luật trong một số trường hợp khẩn cấp, cấp bách, Quốc hội không thể họp được, theo đại biểu có nhiều hình thức họp Quốc hội để xây dựng luật, bên cạnh đó ,trong thời gian Quốc hội không họp còn có UBTVQH là cơ quan hoạt động thường trực, xuyên suốt để xử lý các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Do vậy đề nghị giải trình rõ hơn sự cần thiết, tính bắt buộc phải có quy định này trong dự thảo.

Đồng chí Lê Thị Kim Dung, Phó bí thư Thường trực, Trưởng đoàn ĐBQH khoá XVI tỉnh chủ trì phiên thảo luận tại Tổ.






