Tại Tổ thảo luận số 16, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tham dự, chủ trì phiên thảo luận. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang có đại biểu Ma Thị Thúy và đại biểu Nguyễn Việt Hà phát biểu góp ý đối với các dự án luật.
Tham gia góp ý đối với dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Ma Thị Thúy cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ và các báo cáo thẩm tra; đồng thời tập trung góp ý đối với chính sách ưu đãi đầu tư tại Điều 42 và việc xử lý chi phí của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam tại Điều 60.

Đại biểu Quốc hội Ma Thị Thuý tham gia phát biểu.
Đối với chính sách ưu đãi đầu tư, đại biểu đề nghị không quy định cụ thể mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu dầu thô trong Luật Dầu khí, mà thực hiện thống nhất theo các luật về thuế. Theo đại biểu, nguyên tắc ưu đãi thuế cần được quy định trong pháp luật về thuế, không lồng ghép trong luật chuyên ngành, nhằm bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ và nhất quán của hệ thống pháp luật. Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cụ thể đối với từng hợp đồng dầu khí thuộc thẩm quyền quyết định theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế xuất khẩu dầu thô cũng cần thực hiện theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quy định của Chính phủ.
Đại biểu đề nghị bỏ khoản 4 Điều 42 để phù hợp với Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, trong đó định hướng đổi mới chính sách thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các hình thức ưu đãi khác, ưu đãi sau đầu tư và ưu đãi theo kết quả.
Đối với quy định tại khoản 4 Điều 60 về xử lý chi phí và sử dụng nguồn thu từ phần sản phẩm dầu, khí của nước chủ nhà, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục giải trình, làm rõ cơ sở pháp lý và tác động đối với công tác quản lý ngân sách nhà nước. Đại biểu nhấn mạnh, quản lý chặt chẽ nguồn thu không đồng nghĩa với việc không phát sinh nghĩa vụ chi ngân sách nếu nghĩa vụ đó xuất phát từ trách nhiệm tài chính hợp pháp của Nhà nước; việc xử lý các khoản chi phí phải đúng quy định, không làm sai lệch nghĩa vụ nộp ngân sách.
Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, toàn bộ các khoản thu, chi phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước và không có cơ chế bù trừ trực tiếp giữa các khoản thu, chi. Trong khi đó, dự thảo cho phép khấu trừ trực tiếp chi phí vào nghĩa vụ nộp ngân sách thay vì nộp toàn bộ số thu từ dầu, khí lãi của nước chủ nhà vào ngân sách rồi thực hiện chi theo quy định. Đại biểu đề nghị đánh giá đầy đủ tác động của cơ chế này đối với nghĩa vụ nộp ngân sách, nguyên tắc hạch toán, quản lý thu, chi và Kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2026–2030 đã được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 26/2026/QH16.
Tham gia góp ý đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu Nguyễn Việt Hà nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật năm 2017 nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc sau 08 năm thi hành. Đại biểu đánh giá dự thảo đã bổ sung nhiều quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, như mở rộng quyền, làm rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, rút ngắn một số thời hạn xử lý; đồng thời tán thành nguyên tắc trường hợp luật khác có quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì áp dụng theo luật đó, qua đó bảo đảm tính thống nhất, linh hoạt và ổn định của hệ thống pháp luật.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà tham gia ý kiến.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu đề nghị rà soát, đưa ra khỏi Luật những nội dung mang tính trình tự, thủ tục quá chi tiết, như hồ sơ yêu cầu bồi thường và nội dung thương lượng bồi thường, giao Chính phủ quy định cụ thể để bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện và tính lâu dài của Luật.
Đối với phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý thuế, đại biểu cho rằng dự thảo đang quy định khái quát là “thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế”, trong khi Luật hiện hành xác định cụ thể 04 nhóm hành vi. Việc mở rộng phạm vi bồi thường có thể tác động đến ngân sách nhà nước, nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý thuế; đồng thời cách dẫn chiếu chung có thể gây khó khăn, thiếu thống nhất khi áp dụng. Vì vậy, đại biểu đề nghị đánh giá tác động đầy đủ và quy định rõ hơn các hành vi thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường.
Về thời hạn thông báo dừng giải quyết yêu cầu bồi thường, đại biểu đề nghị cân nhắc quy định thời hạn 01 ngày làm việc để bảo đảm tính khả thi, nhất là tại vùng sâu, vùng xa; đồng thời rà soát thống nhất giữa quyền “được nhận” kết quả giải quyết của người yêu cầu bồi thường với quy định “thông báo” tại các điều khoản liên quan.
Đại biểu cũng không đồng tình với quy định trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ nội dung thì kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định. Theo đại biểu, Hội đồng được thành lập với thành phần, nhiệm vụ và quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch, chính xác và chuyên nghiệp; nếu chuyển lại cho Thủ trưởng cơ quan tự quyết định sẽ làm giảm ý nghĩa của cơ chế này.
Đối với quy định chuyển tiếp, đại biểu đề nghị những nội dung có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường cần được đương nhiên áp dụng; trường hợp vẫn quy định phải có đề nghị của người dân thì cần bổ sung trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường trong việc hướng dẫn, giải thích để người dân thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Các ý kiến phát biểu tại Tổ sẽ được tổng hợp, gửi cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện các dự án luật và dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.






