
Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy tặng hoa chúc mừng đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Sơn và các đồng chí Thường trực HĐND tỉnh khóa XIX tại Kỳ họp thứ nhất của HĐND tỉnh ngay sau khi hợp nhất 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang (ngày 01/7/2025).
Ngay sau khi hoàn thành việc sắp xếp đơn vị hành chính và hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Hội đồng nhân dân tỉnh đã khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy theo đúng quy định. Kỳ họp thứ Nhất Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIX được tổ chức thành công, kịp thời thành lập các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; 04 Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng thời sắp xếp, kiện toàn 13 Tổ đại biểu với 100 đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo đúng quy định.
Sang nhiệm kỳ 2026–2031, tại Kỳ họp thứ Nhất Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XX, Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp tục kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt, thành lập 07 Tổ đại biểu và thông qua 13 nghị quyết về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành đồng bộ từ ngày 01/4/2026.
Trong năm đầu triển khai mô hình mới, Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức 10 kỳ họp, gồm các kỳ họp thường lệ và chuyên đề; ban hành 131 nghị quyết trên nhiều lĩnh vực trọng tâm như phân cấp, phân quyền, đầu tư công, tài chính – ngân sách, an sinh xã hội, chuyển đổi số và phát triển kinh tế – xã hội. Các nghị quyết được ban hành bảo đảm đúng quy định pháp luật, bám sát yêu cầu thực tiễn, tạo hành lang pháp lý đồng bộ để chính quyền các cấp hoạt động ổn định ngay từ giai đoạn đầu sau hợp nhất.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng được Hội đồng nhân dân tỉnh tập trung thực hiện là rà soát, xử lý các vấn đề chuyển tiếp về cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sau hợp nhất. Hội đồng nhân dân tỉnh đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 51/NQ-HĐND ngày 25/8/2025 về việc áp dụng các nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân hai tỉnh trước hợp nhất; Nghị quyết số 52/NQ-HĐND về bãi bỏ các nghị quyết không còn phù hợp; tiếp đó ban hành Nghị quyết số 67/NQ-HĐND ngày 12/11/2025 bãi bỏ thêm một số nghị quyết trong lĩnh vực tài chính, nội vụ, qua đó bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật trên địa bàn toàn tỉnh.

Đại biểu HĐND tỉnh khoá XX thảo luận tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 22/4/2026.
Trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐND ngày 25/7/2025 về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách; Nghị quyết số 25/2025/NQ-HĐND và Nghị quyết số 26/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 quy định tỷ lệ phân chia các khoản thu và nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ chi thường xuyên. Đồng thời, ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-HĐND về thẩm quyền phê duyệt dự toán trong quản lý, sử dụng tài sản công và các nghị quyết quy định nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.
Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân tỉnh đặc biệt quan tâm đến các chính sách bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Nổi bật là Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ đi lại, lưu trú cho cán bộ điều động công tác; Nghị quyết số 09/2025/NQ-HĐND về trợ cấp một lần đối với người lao động chịu tác động từ sắp xếp bộ máy; Nghị quyết số 06/2025/NQ-HĐND quy định chế độ chi bảo đảm hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.
Bám sát tinh thần Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Hội đồng nhân dân tỉnh xác định mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10% trở lên giai đoạn 2026-2030 là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt. Trên cơ sở đó, nhiều nghị quyết quan trọng đã được ban hành nhằm cụ thể hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Trong lĩnh vực quy hoạch và đầu tư phát triển, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 90/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026–2030; Nghị quyết số 95/NQ-HĐND về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Nghị quyết số 96/NQ-HĐND về Kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2026–2030. Đây là những nghị quyết quan trọng nhằm cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, tạo cơ sở huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Đối với hạ tầng chiến lược, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 97/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 về chủ trương đầu tư Dự án cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 2), đoạn Tân Quang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy. Cùng với đó là Nghị quyết số 100/NQ-HĐND về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và Nghị quyết số 101/NQ-HĐND về Kế hoạch đầu tư công năm 2026, góp phần bảo đảm phân bổ nguồn lực tập trung, có trọng tâm, trọng điểm.
Trong lĩnh vực quy hoạch, đất đai và phát triển không gian kinh tế, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-HĐND ngày 06/02/2026 về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Nghị quyết số 41/2025/NQ-HĐND về bảng giá đất; Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 28/3/2026 về đơn giá thuê đất cùng nhiều nghị quyết liên quan đến thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng rừng, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng cho các dự án đầu tư.

Giám sát thường xuyên tình hình triển khai công tác dân tộc, tôn giáo của Ban Dân tộc HĐND tỉnh tại xã Thàng Tín.
Đối với phát triển doanh nghiệp và kinh tế số, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 20/2025/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030; Nghị quyết số 32/2025/NQ-HĐND về nguồn vốn ngân sách ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội; Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số và hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng. Đây là những cơ chế quan trọng nhằm thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế số phát triển.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND về mức chuẩn trợ giúp xã hội; Nghị quyết số 38/2025/NQ-HĐND về mức thưởng đối với vận động viên đạt thành tích cao; Nghị quyết số 39/2025/NQ-HĐND về cơ chế thu, nộp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
Cùng với việc thực hiện chức năng quyết định, hoạt động giám sát tiếp tục được Hội đồng nhân dân tỉnh đổi mới theo hướng trọng tâm, trọng điểm, bám sát những vấn đề cử tri và Nhân dân quan tâm. Chương trình giám sát năm 2026 tập trung vào các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư công, chuyển đổi số, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và vận hành mô hình chính quyền hai cấp.
Từ ngày 01/7/2025 đến nay, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức 03 cuộc giám sát thường xuyên với 10 nội dung liên quan đến giải quyết kiến nghị của cử tri, khiếu nại, tố cáo; tổ chức 05 đoàn khảo sát thực địa về vận hành mô hình chính quyền hai cấp, phát triển du lịch, xử lý rác thải và các dự án công nghiệp. Các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh đã triển khai 16 cuộc giám sát, khảo sát theo lĩnh vực phụ trách.
Đáng chú ý, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thiết lập kênh thông tin trực tuyến với Chủ tịch Hội đồng nhân dân các xã, phường nhằm kịp thời nắm bắt tình hình cơ sở, xử lý nhanh các vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành mô hình mới. Đồng thời, toàn bộ kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh được phát sóng trực tiếp trên các nền tảng truyền thông để cử tri và Nhân dân theo dõi, giám sát.

Tổ đại biểu số 2 HĐND tỉnh tiếp xúc cử tri xã Phố Bảng.
Hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và xử lý đơn thư tiếp tục được quan tâm thực hiện. Hội đồng nhân dân tỉnh đã tiếp nhận, xử lý 112 đơn với 82 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị; tổng hợp trên 320 kiến nghị của cử tri để chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Một trong những điểm nhấn nổi bật trong năm đầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp là việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan dân cử. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hội đồng nhân dân tỉnh xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ đột phá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Hạ tầng công nghệ thông tin được nâng cấp đồng bộ; hệ thống họp trực tuyến, máy chủ, bảo mật dữ liệu được đầu tư hoàn thiện; 100% đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh hoạt động chuyên trách được trang bị máy tính bảng phục vụ công việc. Đối với cấp xã, 100% xã, phường đã được kết nối Internet và xây dựng mạng nội bộ phục vụ điều hành.
Mô hình “kỳ họp không giấy tờ” được tiếp tục triển khai hiệu quả trong toàn bộ các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh. Toàn bộ tài liệu kỳ họp tiếp tục được số hóa, gửi nhận, biểu quyết thông qua phần mềm điện tử; hơn 2.000 văn bản được ký số và xử lý trên môi trường mạng.
Đặc biệt, Hội đồng nhân dân tỉnh đã triển khai nhiều ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ điều hành, tra cứu chính sách và thẩm tra dự thảo nghị quyết. Các ứng dụng AI bước đầu đã hỗ trợ hiệu quả trong việc tóm tắt văn bản, gợi ý xử lý công việc, đối chiếu căn cứ pháp lý và theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu và hiệu quả quản lý, điều hành.
Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã đạt nhiều kết quả tích cực: tổ chức bộ máy được kiện toàn đồng bộ; hệ thống nghị quyết được ban hành toàn diện; hoạt động giám sát tiếp tục được đổi mới; chuyển đổi số đạt nhiều kết quả rõ nét; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ bản bảo đảm theo kế hoạch đề ra.
Trong thời gian tới, Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; rà soát, sửa đổi kịp thời các nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn; nâng cao chất lượng giám sát, nhất là việc tổ chức thực hiện các nghị quyết sau ban hành. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan dân cử, mở rộng mô hình kỳ họp điện tử, nâng cao kỹ năng số cho đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và tiếp tục đồng hành cùng chính quyền tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Với tinh thần chủ động, đổi mới và bám sát thực tiễn, Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, huy động hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.








