Quốc hội thảo luận tại tổ vào dự Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, chiều ngày 24-10, Quốc hội thảo luận tại tổ vào Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh chủ trì phiên thảo thảo luận tổ.

Qua thảo luận, các đại biểu cơ bản nhất trí với các dự thảo luật, đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, quản lý nhà nước về ATTP. Thúc đẩy sáng tạo, đổi mới gắn với sở hữu trí tuệ…

Nhiều đại biểu quan tâm đến nguyên tắc cốt lõi phát triển công nghiệp văn hóa, xác lập tiêu chí cụ thể của công nghiệp văn hóa nhất là thời đại trí tuệ nhân tạo AI, xây dựng khung năng lực, đào tạo đội ngũ nhân lực, phát huy năng lực, sáng tạo của người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa văn hóa, nghệ thuật. Đối với Luật ATTP các ý kiến tập trung vào vấn đề xác định nguồn gốc thực phẩm; phận định rõ ràng trách nhiệm, tránh chồng chéo trong quản lý nhà nước về ATTP; quyền, nghĩa vụ của các đơn vị sản xuất thực phẩm; cơ sở dữ liệu ATTP…


Đại biểu Hoàng Ngọc Định phát biểu thảo luận.

Phát biểu thảo luận, đại biểu Hoàng Ngọc Định nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật ATTP. Tại điểm b khoản 1 Điều 71, dự thảo quy định UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn, đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 71 theo hướng: Quy định rõ UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý, giám sát thường xuyên đối với các cơ sở thuộc phạm vi quản lý; tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền, kịp thời phát hiện, thực hiện các biện pháp xử lý ban đầu và báo cáo khi có sự cố về an toàn thực phẩm. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức hệ thống hỗ trợ chuyên môn, lấy mẫu, thử nghiệm, xác định nguyên nhân và xử lý các sự cố vượt quá thẩm quyền hoặc năng lực chuyên môn của cấp xã; đồng thời bảo đảm cơ chế phối hợp, nhân lực, kinh phí và phương tiện cần thiết. Bổ sung nguyên tắc việc phân cấp nhiệm vụ phải căn cứ vào khả năng thực hiện thực tế và gắn với trách nhiệm bảo đảm nguồn lực, hướng dẫn chuyên môn của cấp tỉnh.


Toàn cảnh phiên họp tổ.

Về truy xuất nguồn gốc thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ tại Điều 19 và Điều 26. Đối với địa phương miền núi, hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn phổ biến dưới hình thức hộ gia đình, sản xuất nhỏ lẻ, mua bán tại chợ phiên. Người dân có thể bán rau, củ, nông sản hoặc sản phẩm chăn nuôi trực tiếp cho tiểu thương. Nhiều giao dịch không có hóa đơn, chứng từ theo hình thức mua bán của doanh nghiệp; khả năng sử dụng các ứng dụng công nghệ để cập nhật dữ liệu còn hạn chế. Nếu áp dụng thống nhất yêu cầu lưu trữ dữ liệu điện tử đối với tất cả các cơ sở, không phân biệt quy mô và điều kiện thực tế, sẽ tạo thêm nghĩa vụ khó thực hiện đối với hộ kinh doanh nhỏ lẻ, trong khi chưa chắc nâng cao được khả năng truy xuất nguồn gốc. Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 19 theo hướng phân loại nghĩa vụ lưu trữ và cập nhật dữ liệu phù hợp với quy mô, loại hình sản xuất, kinh doanh và mức độ nguy cơ an toàn thực phẩm. Bổ sung tại Điều 26 trách nhiệm hướng dẫn mẫu ghi chép thông tin tối thiểu, đơn giản, dễ thực hiện đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, nhất là tại chợ truyền thống và chợ phiên vùng cao.

Về trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm tại bếp ăn tập thể, nhất là bếp ăn trường học, tại Điều 10. Đây là vấn đề cần quan tâm đối với các trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú, nhất là tại vùng sâu, vùng xa. Đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 10 trách nhiệm của đơn vị tổ chức bữa ăn trong việc kiểm tra, ghi nhận thông tin giao nhận suất ăn, kiểm soát điều kiện bảo quản, thực hiện lưu mẫu theo quy định chuyên môn và kịp thời thông báo khi phát hiện dấu hiệu không bảo đảm an toàn thực phẩm. Đại biểu cho rằng không cần bổ sung thêm một loại giấy phép đối với bếp ăn trường học, mà cần xác định cụ thể trách nhiệm tại từng khâu, có hồ sơ giao nhận và cơ chế kiểm tra phù hợp để khi xảy ra sự cố có thể xác định nguyên nhân và trách nhiệm của các bên liên quan.


Đại biểu Vương Thị Hương phát biểu thảo luận.

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, đại biểu Vương Thị Hương, tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh và kiện toàn đầu mối quản lý nhà nước. Góp ý về Điều 11, đại biểu đề nghị làm rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ giữa UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; phân biệt rõ nhiệm vụ do Luật phân quyền với nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền, tránh phân tán hoặc không xác định được trách nhiệm. Đối với Điều 178 về khảo nghiệm kỹ thuật giống cây trồng, đại biểu đề nghị khi cho phép người đăng ký tự thực hiện khảo nghiệm phải đồng thời quy định trách nhiệm lưu giữ dữ liệu gốc, hồ sơ khảo nghiệm, bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng truy xuất; cơ quan quản lý có quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu, mẫu để kiểm tra và yêu cầu khảo nghiệm lại khi kết quả chưa bảo đảm độ tin cậy. Về Điều 201, đại biểu thống nhất việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ, đồng thời đề nghị bổ sung nguyên tắc đối với dữ liệu, tài liệu điện tử dùng làm căn cứ giám định. Theo đó, dữ liệu phải được thu thập, lưu giữ và xử lý theo phương thức bảo đảm xác định được nguồn gốc, tính toàn vẹn và khả năng truy xuất; Chính phủ quy định chi tiết các yêu cầu kỹ thuật phù hợp.

Đỗ Dũng

Tin cùng chuyên mục